BÁC HỒ VÀ NGÀY QUỐC KHÁNH 2/9

1_copy_copy_copy
Hồ Chủ tịch đọc Tuyên ngôn
độc lập ngày 2/9/1945 (Ảnh: TL)

Cách nay đúng 66 năm, ngày 2.9.1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội trước hàng vạn người dân nước Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc vang bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tìm hiểu thêm về vai trò và tấm lòng của Bác Hồ đối với đất nước, chúng ta cùng điểm lại những ngày lịch sử ấy.

Ngày 27.8.1945, Thường vụ Trung ương họp. Rồi Hội đồng Chính phủ họp. Bàn nhiều công việc quan trọng, trong đó có việc tổ chức lễ tuyên bố Độc lập vào ngày 2.9.1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh phụ trách thảo bản Tuyên ngôn độc lập.

Mọi việc chuẩn bị ngày lễ Độc lập đều gấp rút, đều quan trọng. Nhưng gấp rút nhất, quan trọng nhất là dự thảo bản Tuyên ngôn độc lập. Từ Nam quốc sơn hà thế kỷ XI đời Lý, Bình Ngô đại cáo thế kỷ thứ XV đời Lê, đến Tuyên ngôn độc lập thời đại Hồ Chí Minh thế kỷ XX, khoảng cách dài gần 10 thế kỷ, ngót nghìn năm.

Kể từ ngày thứ ba, 28.8.1945 ấy, Chủ tịch Hồ Chí Minh tập trung vào việc soạn thảo Tuyên ngôn độc lập.

Trên gác hai nhà 48 Hàng Ngang, trong một căn phòng rộng mà chủ nhà làm phòng ăn, ở giữa kê một cái bàn dài to, quanh bàn có tám ghế tựa đệm mềm là nơi Bác Hồ thường làm việc với các đồng chí trong Thường vụ Trung ương Đảng. Cuối phòng, sát tường phía sau, kê một chiếc bàn tròn mà Bác thường ngồi ăn sáng. Bác hay ngồi suy nghĩ và đánh máy bên chiếc bàn con kê sát tường góc phía trong. Mặt bàn hình vuông, bọc da xanh màu lá mạ, vừa đủ để tập giấy bút và chiếc máy chữ nhỏ mang từ chiến khu về. Bác trầm ngâm suy nghĩ phác thảo Tuyên ngôn độc lập.

Nửa đêm hôm ấy, Bác vẫn ngồi chăm chú làm việc. Hà Nội sau một ngày sôi động đang đi vào yên tĩnh. Đêm mùa thu, trên căn gác thoáng rộng, không khí mát lành. Ban ngày, phố Hàng Ngang náo nhiệt, chật chội. Giờ đây rộng vắng giữa đêm khuya. Hai đường ray tàu điện chạy thành hai vệt thẳng, đen nhánh. Trước mỗi căn nhà dọc phố, cờ đỏ sao vàng sẫm lại trong đêm. Một tốp tự vệ mặc quần soóc, đầu đội mũ calô, đang đi tuần dọc phố, bóng dáng hiên ngang.

Chỉ mới cách đó hơn một tuần, Hà Nội còn là một thành phố bảo hộ, mật thám như rươi, thoáng thấy màu cờ đỏ là cả bộ máy cai trị của kẻ thù lồng lên như thú dữ. Thế mà giờ đây cờ đỏ phấp phới bay khắp phố phường. Đêm ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang ngồi giữa lòng Hà Nội soạn thảo Tuyên ngôn độc lập, mở đầu một kỷ nguyên mới cho dân tộc: Kỷ nguyên Độc lập, Tự do. Thật là kỳ diệu. Cách mạng là một sự kỳ diệu. Và chính Người, từ Nguyễn Ái Quốc đến Hồ Chí Minh, đã cùng với toàn dân làm nên điều kỳ diệu đó. Từ buổi nhen nhóm phong trào cách mạng, tổ chức Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên ra đời vào năm 1925, do chính Người sáng lập, để năm năm sau, chính đảng đầu tiên của giai cấp Công nhân Việt Nam bước lên vũ đài chính trị.

Chiều ngày 31.8.1945, Bác bảo đưa cho Bác xem sơ đồ địa điểm tổ chức mít tinh và nhắc Ban tổ chức chú ý cả nơi vệ sinh cho đồng bào, và dặn nếu trời mưa thì kết thúc sớm hơn, tránh cho đồng bào bị mưa ướt, nhất là đối với các cụ già và các cháu nhỏ.

Chiều ngày 2.9.1945, trên Quảng trường Ba Đình, một quang cảnh vừa náo nhiệt, vừa xúc động. Khi Cụ Hồ vừa xuất hiện trước máy phóng thanh, thì cả quảng trường âm vang tiếng hô:

– Cụ Hồ Chí Minh muôn năm!

– Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!

Và khi Chủ tịch Hồ Chí Minh sang sảng cất tiếng đọc Tuyên ngôn độc lập thì cả biển người im phăng phắc lắng nghe:

"Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc...".

Đọc được một đoạn, Cụ Hồ bỗng dừng lại, đưa cặp mắt âu yếm nhìn toàn thể đồng bào, cất tiếng hỏi:

– Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?

Tiếng đáp lại liền ngay như sấm:

– Có!

Người dân và Chủ tịch nước bỗng trở nên gần gũi và vô cùng thân thiết.

Càng về cuối bản Tuyên ngôn độc lập, giọng Cụ Hồ càng âm vang, như cuốn hút mọi người.

"Chúng tôi tin rằng các nước đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-ran và Cựu Kim Sơn, quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam. Một dân tộc đã gan góc chống ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! Vì những lẽ trên, chúng tôi - Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: Nước Việt Nam có quyền hưởng Tự do, Độc lập và sự thật đã trở thành một nước Tự do, Độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền Tự do, Độc lập ấy!".

Cùng với ngày 2.9.1945, bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trước quốc dân đồng bào, là một mốc son chói lọi trên con đường dài đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm của dân tộc Việt Nam.

Bản Tuyên ngôn độc lập năm 1945 của nước Việt Nam cũng là một mốc lớn quan trọng của dân tộc. Đó thực sự là lời tuyên bố đanh thép về sự cáo chung của chế độ thuộc địa dưới mọi hình thức. Đồng thời nó cũng báo hiệu sự mở đầu của một thời đại mới, thời đại trỗi dậy của các dân tộc nhược tiểu đứng lên làm chủ vận mệnh của mình. Trước đó hai mươi năm, nhà yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã có Bản án chế độ thực dân Pháp. Nhưng lúc đó, Người mới là đại biểu dân thuộc địa. Bây giờ, chính Người và cả dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Người sẽ thi hành bản án ấy. Và như chúng ta đã biết, bản án đã được thực hiện bằng chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu chín năm sau đó.

Dịp này, đất nước bước vào kỷ niệm 66 năm ngày Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 (1945 – 2011), sống lại với những ngày tháng lịch sử ấy, câu nói "Đồng bào nghe rõ tiếng tôi không?" của Bác Hồ như vẫn còn vang vọng. Với lời nói mộc mạc, chân tình, thể hiện tấm lòng thương yêu nhân dân, Bác Hồ đã tạo nên một sự đoàn kết, gắn bó thành một khối vững chắc của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, mỗi người con Việt Nam dù đang bất kỳ nơi đâu, trong nước hoặc ở xa Tổ quốc, cũng không khỏi xúc động bồi hồi, khi nhớ lại khí thế đầy hào hùng, sôi sục và náo nức của những ngày đầu cách mạng, đặc biệt là ngày Quốc khánh 2-9-1945 lịch sử, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh cất lên giọng nói ấm áp của Người, đọc Tuyên ngôn 2-9, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà.

                                                                                                                 C.M.H

(Trích trong Nhớ mãi những phút giây đầu tiên của đồng chí Vũ Kỳ - nguyên thư ký của Bác, nguyên Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh).


CÁCH MẠNG THÁNG TÁM Ở CỐ ĐÔ HUẾ

Hiu lnh tn công

Sau ba ngày nhân dân ta ở Thừa Thiên - Huế nổi dậy tổng khởi nghĩa giành chính quyền, ngày 26-8-1945, một toán lính Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ, cách Huế 25 cây số về phía bắc.

2_copy_copy_copy_copy_copy_copy_copy_copy_copy
Quảng cảnh Lễ Bảo Đại thoái vị ở Ngọ Môn (Huế) ngày 30 tháng 8 năm 1945

Ðược tin, đồng chí Hoàng Anh (nguyên Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên) cùng một số cán bộ ra tận nơi xem xét tình hình. Ðược biết toán nhảy dù này có sáu tên sĩ quan Pháp do tên quan tư Ca-xten-la (Ca-xten-la) đứng đầu. Chúng tự xưng là phái bộ Ðồng Minh nhảy dù xuống để thi hành một số sứ mệnh. Chưa rõ thực hư, đồng chí Hoàng Anh vẫn để bọn nhảy dù đóng ở khu nhà mà chúng chiếm. Chúng bố phòng cẩn mật và hằng ngày dùng điện đài để liên lạc với căn cứ ở Xri lan-ca, và tìm cách bắt liên lạc với Phạm Quỳnh và Ngô Ðình Khôi là hai đại thần của triều Nguyễn nổi tiếng trung thành với thực dân khi còn tại chức. Nếu bọn Pháp này liên lạc được với bọn quan chức Pháp đang còn bị giam giữ ở Huế và bọn phản động trong nước thì rất dễ xảy ra đổ máu. Chính quyền cách mạng mới thành lập sẽ gặp muôn vàn khó khăn.

Linh tính cho biết một nguy cơ lớn sắp xảy đến, nếu ta hành động chậm trễ. Anh em Trường Thanh niên tiền tuyến ở Huế gồm tất cả đều là trí thức giác ngộ cách mạng, được nhóm Việt Minh trong trường lãnh đạo, khẩn cấp họp bàn biện pháp đối phó.

Anh em cử ngay một nhóm do Nguyễn Thế Lương (Cao Pha) chỉ huy. Tất cả anh em chia làm ba tiểu đội, nai nịt gòn gàng, mang súng mút-cơ-tông, mỗi người 10 viên đạn, thuê một chiếc xe khách chở thẳng đến nơi đồn trú của tốp nhảy dù. Cách địch chừng 50 - 60 mét, cả ba tiểu đội dừng lại. Ba người đại diện tiến lên.

Sáu tên nhảy dù đi lại trên sân nhà thấy "phái đoàn" đến, chúng ngơ ngác nhìn. Tên quan tư chỉ huy bước tới ra vẻ hùng hổ, dọa nạt. Khi hai bên giáp nhau, anh Lê Thiện Huy cầm cờ đỏ sao vàng, dõng dạc nói to bằng tiếng Pháp: "Nhân danh Ủy ban Khởi nghĩa Trung Bộ, tôi chuyển đến ông một bức thư...".

Khi tên quan tư kính cẩn đưa hai tay ra nhận thư, thì có một phát súng mút-cơ-tông nổ vang, làm chấn động bầu không khí đang rất nghiêm trang. Lập tức, anh Nguyễn Thế Lương rút khẩu súng lục từ trong túi, hét lên bằng tiếng Pháp: "Ðưa tay lên! Các anh là tù binh!".

Cùng lúc ấy, Ðặng Văn Việt (sau này nổi tiếng là "hùm xám", "vua đường số 4") và cả phân đội xông lên, bao vây kín bọn lính nhảy dù, tất cả chĩa súng vào sáu tên địch. Không kịp trở tay và hoàn toàn bất ngờ, tất cả bọn lính nhảy dù đều phải đưa hai tay lên đầu.

Cả phân đội chia làm ba nhóm: canh giữ tù binh, lục soát tịch thu vũ khí địch, tài liệu, quân trang, quân dụng, gồm có: sáu khẩu súng các-bin Mỹ, sáu khẩu súng ngắn Bơ-rao-ninh, hai điện đài, hai máy ra-gô-nô phát điện, sáu túi cá nhân đựng rất nhiều quân trang, dù, lựu đạn, đạn dược, bánh mì, đồ hộp, thuốc men, bạc nén, tiền Ðông Dương, sáu cặp sĩ quan đựng bút giấy, tài liệu, đồng hồ, la bàn và rất nhiều bản đồ in trên lụa rất có giá trị.

Trong cặp của tên quan tư Ca-xten-la có bản mật lệnh của tướng Ðờ Gôn (De Gaulle), của Trung tâm tiền phương sở chỉ huy của quân viễn chinh Pháp ở Xri lan-ca. Bản mật lệnh của Ðờ Gôn ghi rõ:

Mật lệnh.

Quan tư Ca-xten-la có nhiệm vụ bắt liên lạc với Ngô Ðình Khôi, Phạm Quỳnh, với các lực lượng Pháp ở hải ngoại (FFE) và các lực lượng Pháp nội địa (FFI) để tổ chức chiếm lĩnh các công sở và thành lập chính quyền thuộc địa ở miền Trung Việt Nam.

Tất cả các FFE và FFI đều phải đặt dưới quyền của quan tư Ca-xten-la.

Toàn bộ tài liệu chứng minh rất rõ là toán sĩ quan và hạ sĩ quan nhảy dù xuống Hiền Sĩ không phải là một phái bộ của quân Ðồng Minh mà là một phái đoàn quân sự Pháp do Ðờ Gôn sử dụng để tìm cách lập lại chính quyền thuộc địa ở miền trung.

Bắt và giao sáu tên Pháp cho du kích để giải về Ủy ban Khởi nghĩa Trung Bộ. Ðoàn quân Thanh niên tiền tuyến lại lên xe trở về Huế. Trên xe, hỏi ra mới biết tiếng súng cướp cò đúng lúc quân ta đang ở trước mặt bọn Pháp là do anh Phan Viên sơ ý đụng tay vào lẫy súng và súng nổ. Không ngờ tiếng súng cướp cò ấy lại là tiếng súng lệnh khai tử phái đoàn quân sự của Ðờ Gôn và âm mưu trở lại lập chính quyền thuộc địa ở miền trung.

Về đến Huế, một đại diện lớp Thanh niên tiền tuyến được cử đến gặp đồng chí Trần Hữu Dực, Chủ tịch Ủy ban Khởi nghĩa Trung Bộ để báo cáo kết quả cuộc hành quân. Ðồng chí Trần Hữu Dực hết sức vui mừng và nhiệt liệt khen ngợi chiến công vừa đạt được. Ðồng chí nhận xét:

Chỉ cần ta chậm một hai ngày là bọn Pháp nhảy dù xuống Hiền Sĩ có thể liên lạc được với Ngô Ðình Khôi, Phạm Quỳnh, các lực lượng Pháp ở hải ngoại và nội địa. 500 tên Pháp đang bị giam ở trường Providence, 4.500 lính Nhật ở đồn Mang Cá... sẽ gây tai họa lớn cho cách mạng./.

(Theo hồi ký của Đặng Văn Việt) - Báo nhân dân hàng tháng số 172 /8-2011

THÔNG BÁO
Tình hình khối đại đoàn kết toàn dân và hoạt động của
Mặt trận các cấp tham gia xây dựng Chính quyền
sáu tháng đầu năm 2011

  Ngày 10&11/8/2011, tại thành phố Huế Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế khoá VI, nhiệm kỳ 2011- 2016 đã tiến hành kỳ họp thứ hai, đồng chí Trần Phùng, Uỷ viên Thường vụ Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh đã đọc thông báo tình hình khối đại đoàn kết toàn dân và hoạt động của Mặt trận các cấp tham gia xây dựng chính quyền sáu tháng đầu năm 2011. Ban biên tập Thông tin công tác Mặt trận tỉnh xin trân trọng giới thiệu toàn văn Thông báo này.

3_copy_copy_copy_copy_copy_copy
Đ/c Trần Phùng, UVTV Tỉnh ủy - Chủ tịch UBMT tỉnh
đọc Thông báo của Mặt trận tại kỳ họp thứ hai HĐND tỉnh khóa VI

Về tình hình khối đại đoàn kết toàn dân:  Sáu tháng đầu năm 2011, mặc dù phải đối mặt với khó khăn như: tình hình lạm phát, thiên tai, dịch bệnh; nhưng với sự quan tâm hỗ trợ tích cực của Trung ương, sự lãnh đạo, chỉ đạo và điều hành sâu sát, kịp thời của Tỉnh uỷ, HĐND, UBND tỉnh, sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, các ngành các cấp, cộng đồng doanh nghiệp và tinh thần đoàn kết của các tầng lớp nhân dân. Kinh tế xã hội tỉnh nhà những tháng đầu năm có những chuyển biến khá tích cực. Đời sống nhân dân ổn định, quốc phòng an ninh và trật tự an toàn xã hội được giữ vững, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố, tăng cường.

Các tầng lớp nhân dân bày tỏ sự tin tưởng, phấn khởi trước Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII, đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016 thành công tốt đẹp, là điều kiện cơ bản, quyết định đẩy mạnh hơn nữa công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để xây dựng nước ta thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Các tầng lớp nhân dân tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng, chung sức chung lòng, khắc phục khó khăn, đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phát huy tiềm năng và nội lực thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội 6 tháng đầu năm 2011, góp phần thực hiện tốt các chỉ tiêu, mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV và Kết luận 48 – KL/TW ngày 25/05/2009 của Bộ Chính trị xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Tuy nhiên, cử tri và nhân dân còn những băn khoăn, lo lắng trên một số vấn đề sau:

Tình hình lạm phát, giá cả tiếp tục tăng cao ảnh hưởng bất lợi đến đời sống của nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội; việc quản lý đất đai, khai thác tài nguyên khoáng sản còn nhiều bất cập; tình trạng ô nhiễm vệ môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, tai nạn giao thông, tội phạm, tệ nạn xã hội chưa giảm; việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân chưa được tốt; cải cách hành chính chưa đáp ứng với yêu cầu...Cử tri và nhân dân rất bất bình với việc gần đây một số tàu thuyền của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa thuộc chủ quyền của nước ta, gây ảnh hưởng không tốt đến mối quan hệ hữu nghị và hợp tác truyền thống giữa hai nước.

Cử tri và nhân dân mong muốn HĐND, UBND các cấp tiếp tục quan tâm: đầu tư cho phát triển nông nghiệp, nông thôn để đảm bảo ổn định đời sống nhân dân, nhất là người nghèo, người có thu nhập thấp, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; nâng giá bồi thường đền bù, giải tỏa mặt bằng và quan tâm bố trí tái định cư, hỗ trợ tạo điều kiện để nhân dân nơi giải tỏa có cuộc sống bằng và tốt hơn nơi ở cũ; quan tâm bảo vệ môi trường, công tác quản lý chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm phải đảm bảo phát triển bền vững và nâng cao cuộc sống cho nhân dân; có biện pháp tích cực sớm khắc phục tình trạng lấn chiếm vĩa hè, lề đường, công viên, khu công viên để xây dựng “Nếp sống văn hóa - văn minh đô thị”; tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, công tác quản lý, sử dụng tài nguyên và đất rừng, công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Về công tác Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền: Sáu tháng đầu năm 2011 Mặt trận các cấp đã tập trung tham gia tốt công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và bầu cử đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016. Cùng với việc chủ trì các bước hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử, Ủy ban MTTQ Việt Nam các cấp đã hiệp thương giới thiệu 6.419 người ra ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011 - 2016[1], đã tổ chức 1.467 hội nghị gặp gỡ, tiếp xúc giữa cử tri với những người ứng cử đại biểu Quốc hội khoá XIII và HĐND các cấp, có 84.413 cử tri tham dự  với 7.253 lượt cử tri phát biểu ý kiến[2]. Thực hiện tốt công tác giám sát, tuyên truyền, vận động đông đảo cử tri tham gia đi bầu góp phần làm cho cuộc bầu cử thực sự là ngày hội lớn của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân xây dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân.

Kết quả bầu cử như sau:

- Đã bầu đủ 7 đại biểu trong 13 ứng cử viên đại biểu Quốc hội khoá XIII.

- Đã bầu đủ 52 đại biểu trong 84 ứng cử viên đại biểu HĐND tỉnh.

- Đã bầu đủ 303 đại biểu trong 458 ứng cử viên đại biểu HĐND cấp huyện. 

- Đã bầu 3.837đại biểu trong 5.867 ứng cử viên đại biểu HĐND cấp xã (thiếu 31 đại biểu).

Đã phối hợp với Thường trực HĐND – UBND các cấp tổ chức các hội nghị tiếp xúc giữa cử tri với đại biểu HĐND các cấp diễn ra trong không khí cởi mở, thẳng thắn, dân chủ, đầy trách nhiệm giữa các đại biểu với cử tri. Các ý kiến, kiến nghị, tâm tư, nguyện vọng của cử tri đã được tổng hợp báo cáo trước kỳ họp thứ hai HĐND các cấp và HĐND tỉnh khoá VI.

Đã giới thiệu và được HĐND tỉnh bầu 21 vị Hội thẩm TAND tỉnh, HĐND cấp huyện bầu 150 vị Hội thẩm TAND cấp huyện. Tổ chức lấy ý kiến nhận xét của cử tri nơi cư trú và tham gia ý kiến đề nghị bổ nhiệm, tái bổ nhiệm 4 Thẩm phán TAND cấp tỉnh và huyện.

Về kiến nghị:

1. Về kinh phí thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”:

 Để thực hiện Chỉ thị 1869/CT-TTg ngày 10/10/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường phối hợp với Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đẩy mạnh Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”  trong giai đoạn mới và theo Thông tư số 160/2010/TT - BTC, ngày 19/10/2010 của Bộ Tài chính về hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư liên tịch số 02/2002/TTLT/BTC-MTTW của Bộ Tài chính và Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam về quy định mức chi thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”: mỗi khu dân cư từ 3.000.000đ  - 5.000.000đ/năm/KDC, đối với xã thuộc vùng khó khăn, mức chi từ 5.000.000đ - 7.000.000đ/năm/xã. Mức hỗ trợ do HĐND tỉnh quyết định (được thực hiện từ tháng 01/2011). Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh đã có tờ trình số: 69/TTr-UBMT, ngày 08/7/2011 về việc đề nghị UBND tỉnh trình HĐND tỉnh Quyết định mức chi thực hiện Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư”.

Trong lúc chờ đợi HĐND tỉnh quyết định mức chi theo Thông tư số 160/2010/TT – BTC. Để có kinh phí đảm bảo các hoạt động của Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong năm 2011, nhất là tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân” vào dịp Kỷ niệm 81 năm ngày thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam (18/11/2011). Ban Thường trực Uỷ ban MTTQ Việt Nam tỉnh đề nghị Thường trực HĐND tỉnh, UBND tỉnh hỗ trợ kinh phí mức thấp nhất: 3.000.000 đồng/năm/khu dân cư và 5.000.000 đồng/năm/xã thuộc vùng khó khăn.

Thực hiện Nghị định số 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ công chức ở xã, phường thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã. Trong đó, tại khoản 3 Điều 19 quy định: mỗi thôn, tổ dân phố được bố trí không quá 03 người. Mức phụ cấp mỗi người không quá 1,0 hệ số mức lương tối thiểu chung. (Trong đó ngân sách trung ương hỗ trợ 2/3). Theo công văn số 2450/ BNV-CQĐP ngày 11/7/2011 của Bộ Nội vụ về chế độ phụ cấp  đối với Trưởng ban công tác Mặt trận ở khu dân cư, đến tháng 3/2011 cả nước đã có 55 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện phụ cấp đối với Trưởng ban công tác Mặt trận ở thôn, tổ dân phố và khu dân cư. Cả nước hiện còn 8 tỉnh chưa có chế độ cho Trưởng ban công tác Mặt trận ở khu dân cư trong đó có tỉnh ta. Để ghi nhận động viên các vị Trưởng ban công tác Mặt trận thôn, tổ dân phố và khu dân cư, Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh kính đề nghị HĐND, UBND tỉnh xem quan tâm tạo điều kiện giải quyết chế độ phụ cấp Trưởng ban công tác Mặt trận khu dân cư theo quy định tại Nghị định 92/2009/NĐ-CP, ngày 22/10/2009 của Chính phủ. Để thực hiện tốt Kết luận 48/KL-TW của Bộ chính trị, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV, Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 29/7/2011 của Tỉnh ủy về xây dựng và phát triển Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương (giai đoạn 2011 – 2015) và Nghị quyết của HĐND tỉnh về nhiệm vụ kinh tế - xã hội năm 2011. Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên các cấp trong tỉnh sẽ tiếp tục động viên các tầng lớp nhân dân phát huy truyền thống cách mạng, chung sức chung lòng đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, phát huy tiềm năng và nội lực góp phần thực hiện tốt các chỉ tiêu, mục tiêu kinh tế - xã hội năm 2011 góp phần đưa tỉnh nhà trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.


[1] 13 ứng cử viên đại biểu Quốc hội, trong đó: Trung ương 3, địa phương 10; 84 ứng cử viên đại biểu HĐND tỉnh; 458 ứng cử viên đại biểu HĐND cấp huyện; 6.867 ứng cử viên đại biểu HĐND cấp xã.

[2] Hội nghị tiếp xúc của ứng cử viên đại biểu Quốc hội có 5.169 cử tri dự; hội nghị tiếp xúc của ứng cử viên HĐND cấp tỉnh có 6.157 cử tri dự; hội nghị tiếp xúc của ứng cử viên HĐND cấp huyện có 13.812 cử tri dự; hội nghị tiếp xúc của ứng cử viên HĐND cấp xã có 59.005 cử tri dự.


PHÁT BIỂU CỦA ĐỒNG CHÍ VÕ VĂN CHINH- PHÓ CHỦ TỊCH THƯỜNG TRỰC UỶ BAN MTTQ VIỆT NAM TỈNH TẠI LỄ PHÁT ĐỘNG PHONG TRÀO THI ĐUA XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI CỦA UBND TỈNH

Sáng Ngày 19-8-2011, tại thành phố Huế UBND tỉnh tổ chức Lễ phát động phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới, Ban biên tập Thông ting công tác Mặt trận Thừa Thiên Huế xin trân trọng giới thiệu toàn văn bài phát biểu này.

4_copy_copy_copy_copy_copy
Đ/c Võ Văn Chinh, Phó Chủ tịch Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh
phát biểu tại Lễ Phát động

Hưởng ứng phong trào thi đua xây dựng nông thôn mới do Uỷ ban nhân dân tỉnh phát động và tiếp tục phát huy kết quả và không ngừng nâng cao chất lượng Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở ở khu dân cư”, nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết 26NQ/TW của BCH TW Đảng về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết Đại hội tỉnh đảng bộ lần thứ XIV, thực hiện kết luận 48/KL- BCT của Bộ chính trị xây dựng Thừa Thiên Huế sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; Nhận thức sâu sắc ý nghĩa và tầm quan trọng Cuộc vận động xây dựng nông thôn mới Ban Thường trực Ủy ban MTTQ Việt Nam tỉnh với vai trò và vị trí chính trị của mình trong thời gian tới tiếp tục động viên các tầng lớp nhân dân, giai cấp công nhân, nông dân, đội ngũ trí thức, các dân tộc, tôn giáo chung sức chung lòng cùng với đảng bộ thực hiện có hiệu quả các nội dung chủ yếu sau đây:

1. Động viên nhân dân đoàn kết giúp nhau phát triển kinh tế nhanh và bền vững xây dựng nông thôn mới, phát triển đô thị văn minh, tích cực tham gia xây dựng và thực hiện các quy hoạch chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huy động được nhiều nguồn lực giúp nhau phát triển kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập để ngày càng có nhiều người giàu, người khá trở thành giàu, và giảm bớt người nghèo.

2. Đoàn kết phát huy truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, “Tương thân tương ái”, tiếp tục thực hiện tốt hoạt động đền ơn đáp nghĩa và nhân đạo từ thiện, chăm lo tốt các gia đình liệt sĩ, thương binh và những người có công với nước. Người già cô đơn, trẻ mồ côi, những nạn nhân chất độc hoá học và những người không may mắn trong cuộc sống đều được chăm lo ngày càng tốt hơn.

3. Đoàn kết phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương, mọi người sống và làm việc theo pháp luật, tích cực vận động nhân dân tham gia giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; xây dựng và thực hiện tốt quy ước của khu dân cư; xây dựng khu dân cư không có tội phạm, đẩy lùi tệ nạn xã hội; thực hiện tốt pháp lệnh về quy chế dân chủ cơ sở, mọi người tích cực tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc và xây dựng vững mạnh nền quốc phòng toàn dân.

4. Vận động các tầng lớp nhân dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá Huế, văn hoá dân tộc và thuần phong mỹ tục trong nhân dân. Tổ chức tốt ngày hội “Đại đoàn kết dân tộc ở khu dân cư”, nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Mặt trận Dân Tộc Thống nhất Việt Nam (18/11) hàng năm với việc biểu dương các điển hình tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc tham gia vào công cuộc xây dựng nông thôn mới.

5. Đoàn kết phát triển sự nghiệp giáo dục, y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, bảo vệ môi trường: Đẩy mạnh phong trào khuyến học, xây dựng cộng đồng học tập, mọi trẻ em được đến trường đúng độ tuổi, giúp đỡ học sinh khó khăn, khuyến khích học sinh giỏi; vận động toàn dân tích cực tham gia bảo vệ môi trường xanh – sạch – đẹp.

6. Động viên các tầng lớp nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, tăng cường mối liên hệ gắn bó mật thiết giữa Đảng với nhân dân. Góp phần xây dựng Chi bộ, Ban công tác Mặt trận và các Chi hội đoàn thể ở Khu dân cư vững mạnh.

Chúng tôi tin tưởng rằng với sự quan tâm lãnh chỉ đạo sâu sát của các cấp uỷ Đảng, sự phối hợp chặt chẽ của Chính quyền, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức thành viên và sự hưởng ứng đông đảo của các tầng lớp nhân dân, cuộc vận động xây dựng nông thôn mới , đây là cuộc vận động rộng lớn, có ý nghĩa toàn diện và nhân văn sâu sắc, chắc chắn sẽ nhanh chóng lan toả đi vào cuộc sống, mang lại kết quả thiết thực, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp phát triển, nông thôn văn minh, nông dân từng bước khá giả, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, sớm đưa tỉnh nhà trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.


MỞ RỘNG VÀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CUỘC VẬN ĐỘNG “ TOÀN DÂN ĐOÀN KẾT XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG VĂN HÓA Ở KHU DÂN CƯ” GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở THỪA THIÊN HUẾ

                                                                                   Hồ Thị Ngọc Diệp
                                                       Phó chủ tịch UBMT tỉnh Thừa Thiên Huế

Địa bàn khu dân cư có vị trí hết sức quan trọng là nơi diễn ra sôi động trong quá trình vận động, đổi mới phát triển xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, nơi diễn ra mọi sinh hoạt của cộng đồng dân cư, nơi trực tiếp vận động tổ chức thực hiện mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước; đoàn kết cùng nhau chăm lo những lợi ích chung của cộng đồng, cùng tham gia và cùng hưởng lợi, là nơi có vai trò rất quan trọng trong giữ gìn và phát huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân tộc, là cầu nối giữa Đảng, Chính quyền và nhân dân; khu dân cư là nền tảng của quốc gia, từng khu dân cư có mạnh thì đất nước mới vững mạnh.

Để phát huy vai trò, vị trí của khu dân cư đồng thời xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của cuộc sống, nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đổi mới đất nước, đổi mới nội dung, phương thức, nâng cao hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp. Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” là cuộc vận động có ý nghĩa chính trị xã hội và nhân văn sâu sắc là cuộc vận động của “Ý Đảng, lòng dân” đã quy tụ thúc đẩy và phát huy các phong trào thi đua yêu nước ở cộng đồng dân cư, đồng thời lôi cuốn được đông đảo các cấp, các ngành, các lực lượng trong xã hội tham gia, thể hiện tính toàn dân, toàn diện. Kết quả cuộc vận động không ngừng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, vun bồi khơi dậy và phát huy tinh thần đoàn kết, ý chí tự lực, tự cường làm bật dậy các tiềm năng, sức mạnh nội lực từ gia đình, địa bàn khu dân cư được các tầng lớp nhân dân đồng tình hưởng ứng nhanh chóng lan tỏa vào cuộc sống đã đạt được kết quả toàn diện, thiết thực đã được minh chứng qua 15 năm thực hiện.

Để cuộc vận động tiếp tục đi vào cuộc sống trong thời gian tới Mặt trận các cấp và các tổ chức thành viên cần tập trung xây dựng kế hoạch phối hợp thực hiện Chỉ thị số 1869/CT-TTg ngày 10/10/2010 của Thủ Tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” trong giai đoạn mới và công văn số 05-CV/TU ngày 15/9/2010 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “Về việc tăng cường lãnh đạo mở rộng và nâng cao chất lượng cuộc vận động phát triển sâu hơn, rộng hơn và thiết thực hơn”; Tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, các tầng lớp nhân dân về nội dung, mục đích, ý nghĩa và tư tưởng chỉ đạo, nhằm mở rộng nâng cao chất lượng 6 nội dung của cuộc vận động trên cơ sở bổ sung nội dung, tiêu chí thực hiện chương trình mục tiêu xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh gắn với việc đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước, với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cuộc vận động "Ngày vì người nghèo"; cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Nhân đạo từ thiện” … Củng cố, kiện toàn Ban chỉ đạo cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã; củng cố ban vận động ở khu dân cư. Tiếp tục tham mưu tốt cho Cấp ủy các văn bản về việc nâng cao chất lượng cuộc vận động chăm lo ngày càng tốt hơn đến cuộc sống của nhân dân nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, bà con ở vùng sâu, vùng xa đảm bảo an sinh xã hội cũng chính là thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh; Xây dựng cơ chế phối hợp với các tổ chức thành viên và các ngành, tăng cường kiểm tra, hướng dẫn quá trình thực hiện cuộc vận động đi vào chiều sâu, hiệu quả tránh hình thức.

Tích cực nâng cao vai trò giám sát, phản biện xã hội của MTTQ và các đoàn thể nhân dân, vận động nhân dân tích cực tham gia xây dựng Đảng, xây dựng Chính quyền động viên nhân dân thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước và đại biểu dân cử thực hiện tốt công tác thanh tra nhân dân, làm tốt công tác hòa giải mâu thuẫn ở cơ sở, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban giám sát đầu tư cộng đồng.

Không ngừng đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận hướng về cơ sở, địa bàn dân cư và hộ gia đình lấy thực hiện cuộc vận động làm nội dung cơ bản, thường xuyên của hoạt động Mặt trận các cấp; chú trọng củng cố Ban công tác Mặt trận ở khu dân cư, tăng cường tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu đổi mới công tác Mặt trận trong giai đoạn mới.

Làm tốt công tác sơ kết, tổng kết, đánh giá; biểu dương khen thưởng kịp thời những tập thể, cá nhân điển hình; phổ biến nhân rộng những mô hình tốt, những cách làm hay, có hiệu quả trong thực hiện cuộc vận động. Bổ sung các nội dung, tiêu chí về xây dựng nông thôn mới theo Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010 của Thủ Tướng Chính phủ và Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 5/8/2008 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ VII khóa X về “Nông nghiệp, nông dân và nông thôn”. Phấn đấu nâng cao chất lượng các danh hiệu “Gia đình văn hóa”, “Khu dân cư văn hóa” và tổ chức tốt “Ngày hội đại đoàn kết toàn dân tộc”.

Với quyết tâm cao thực hiện cuộc vận động chỉ có điểm khởi đầu chứ không có điểm kết thúc nhằm ngày càng nâng cao chất lượng cuộc sống và góp phần thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng của nhân dân; kết hợp bồi dưỡng với phát huy sức mạnh toàn dân, xây dựng khu dân cư thật sự là một Mặt trận đoàn kết, thống nhất góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng an ninh, xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh, thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội MTTQ Việt Nam tỉnh lần thứ VII, (nhiệm kỳ 2009-2014) và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV(nhiệm kỳ 2010-2015), Mặt trận các cấp cần tập trung xây dựng kế hoạch phù hợp với tình hình của địa phương thực hiện chương trình phối hợp thống nhất hành động của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh thực hiện Kết luận số 48-KL/TW của Bộ Chính trị về “ Xây dựng Thừa Thiên Huế thành thành phố trực thuộc Trung ương”.


Huyện Anh hùng Nam Đông
trong quá trình xây dựng nông thôn mới

                                                             NguyễN Văn Hóa
Phó Chánh Văn phòng HĐND -
UBND huyện Nam Đông

Sau một thời gian tích cực triển khai, đến nay huyện Nam Đông đã hoàn thành đề án xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2011-2015.

6_copy_copy_copy
Trên hành trình đô thị hóa       

Sau 5 năm xây dựng, diện mạo NTM ở Nam Đông sẽ khác hẵn. Hệ thống giao thông liên xã, liên thôn, đường làng ngõ xóm trên địa bàn đều được bê tông, tráng nhựa. Các dự án đường La Sơn-Nam Đông, đường Nam Đông-A Lưới, đường Cam Lộ-Tuý Loan hoàn thành trong một vài năm tới, trên địa bàn huyện sẽ mọc thêm những tuyến đường nhựa liên xã khang trang như Hương Phú-Thượng Quảng, Hương Lộc-Khe Tre-Hương Sơn-Thượng Lộ. Hệ thống đường giao thông nội đồng cũng được xây dựng đến tận các trung tâm sản xuất nhằm phục vụ nhu cầu cơ giới hoá. Các công trình thuỷ lợi được xây mới, nâng cấp đảm bảo đưa nước tưới 100% diện tích lúa. Các công trình nước sạch, điện lưới quốc gia được xây dựng và nâng cấp đảm bảo chất lượng, phục vụ nhu cầu sinh hoạt cho người dân trên địa bàn.

          Các cơ sở, trang thiết bị trường học được đầu tư đảm bảo nhu cầu giáo dục. Sẽ có 22 cơ sở trường học đạt chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất và công tác đào tạo. Trên địa bàn các thôn, xã, thị trấn đều có trung tâm văn hoá, thể thao đảm bảo phục vụ nhu cầu vui chơi, giải trí cho các tầng lớp nhân dân. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc, sưu tầm và khôi phục các lễ hội tiêu biểu của đồng bào Cơ Tu. Xây dựng và phát huy tốt các thiết chế văn hoá như tăng thời lượng, chất lượng thu phát sóng truyền thanh truyền hình, phát sóng tiếng Cơ Tu. Có 100% thôn, cơ quan và 95% hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa, 100% trạm y tế đạt chuẩn quốc gia.

          Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng nông nghiệp-công nghiệp-dịch vụ. Phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng sản xuất hàng hoá có giá trị kinh tế cao. Đầu tư phát triển các mô hình trang trại, gia trại có quy mô lớn gắn với bảo vệ môi trường, tạo ra sản phẩm hàng hoá lớn có chất lượng mang lại hiệu quả kinh tế. Các dịch vụ, ngành nghề mới được hình thành nhằm đẩy mạnh sản xuất kinh doanh, nâng cao giá trị sản phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ đến năm 2015 đạt 512 tỷ đồng, trong đó ngành công nghiệp –xây dựng đạt 216 tỷ đồng, ngành nông lâm ngư nghiệp đạt 167 tỷ đồng, dịch vụ đạt 129 tỷ đồng. Các tổ chức sản xuất, doanh nghiệp ở nông thôn ra đời sẽ tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho lao động. Liên kết các doanh nghiệp, các hợp tác xã, tổ hợp tác gắn với việc chuyển đổi cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ lệ lao động trong nông nghiệp còn 35%. Các đối tượng có công cách mạng, người nghèo, tàn tật, người già, neo đơn đều được hưởng chế độ chính sách, tạo điều kiện phát triển kinh tế đảm bảo đời sống ngang bằng với mức trung bình toàn xã hội. Thu nhập bình quân đầu người toàn huyện đạt 19,5 triệu đồng vào năm 2015. Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 5% theo chuẩn 2010. Hệ thống chính trị cơ sở vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được giữ vững; đội ngũ cán bộ đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ, chính trị; đảng bộ chính quyền trong sạch vững mạnh.

          Để huyện NTM trở thành hiện thực, nhân dân và cán bộ huyện Nam Đông nhận thức được rằng đó là một cơ hội hết sức lớn lao để nhân dân huyện nhà vươn lên, nhưng cũng hết sức nặng nề, đầy khó khăn và thách thức. Do đó huyện tập trung chỉ đạo các địa phương, ban ngành tổ chức quy hoạch, rà soát hệ thống kết cấu hạ tầng, những công trình cần thiết phải nâng cấp, xây mới để có hướng đầu tư hợp lý. Trong quá trình xây dựng, huyện triển khai các giải pháp đồng bộ, từ huy động nguồn lực vốn đến công tác tổ chức thực hiện, với sự tham gia của các cơ quan ban ngành, chính quyền và toàn thể nhân dân địa phương để công trình thi công đảm bảo đúng tiến độ và chất lượng, gắn với công tác quản lý, duy tu bảo dưỡng.

Cùng với phát triển hạ tầng, Nam Đông phấn đấu xây dựng một diện mạo NTM xanh, sạch, đẹp, đảm bảo vệ sinh môi trường. Thực hiện tốt việc trồng cây xanh tạo cảnh quan môi trường trên các tuyến đường, các trụ sở cơ quan và những nơi công cộng. Vận động nhân dân xây dựng tường rào nhà, khu vườn bằng cây xanh nhằm tạo mỹ quan đường làng ngõ xóm và khu dân cư. Tổ chức việc thu gom rác thải, thu phí và quản lý tốt công tác bảo vệ môi trường. Có chính sách hỗ trợ, vận động 100% nhân dân xây dựng hố xí đảm bảo vệ sinh. Hướng dẫn bà con thực hiện tốt việc bảo vệ môi trường trong sản xuất, chăn nuôi; các mô hình trang trại gia súc gia cầm phải xa khu dân cư theo quy định.

Trong phát triển sản xuất tiếp tục ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao hiệu quả cây cao su, rừng kinh tế, các loại cây ăn quả. Chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, đưa các đối tượng mới phù hợp và có giá trị kinh tế cao vào sản xuất. Chuyển đổi một số diện tích đất rừng hiệu quả kinh tế thấp sang trồng cao su. Liên kết giữa nông dân và các doanh nghiệp đầu tư trồng rừng phục vụ ngành nghề chế biến gỗ, mộc dân dụng. Mở rộng diện tích rừng tre lồ ô phục vụ chế biến sản phẩm đũa, tăm tre xuất khẩu. Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại, gia trại có quy mô lớn gắn với an toàn dịch bệnh. Hướng lâu dài huyện tăng cường đầu tư các cơ sở, nhà máy chế biến và bảo quản nông sản tại chỗ nhằm nâng cao giá trị sản phẩm và hiệu quả kinh tế.

Phát triển nhanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp phù hợp với lợi thế của địa phương nhằm góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp. Tập trung thúc đẩy việc thi công hoàn thành các công trình Nhà máy xi măng nam Đông, Thuỷ điện Thượng Nhật, Thuỷ điện Thượng Lộ, đường La Sơn – Nam Đông, đường Nam Đông – A Lưới. Có chính sách hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp tổ chức khai thác vật liệu xây dựng, khai thác đá, mở rộng quy mô chế biến mủ cao su, kinh doanh nông sản, dịch vụ du lịch. Đa dạng hoá các loại hình dịch vụ thương mại như viễn thông, du lịch. Tận dụng lợi thế về giao thông, cảnh quan thiên nhiên, khe suối, thác, nét đẹp văn hoá truyền thống của người Cơ Tu để phát triển các khu du lịch sinh thái. Mở rộng các dịch vụ lu lịch như nhà hàng, nhà nghĩ lưu trú dài ngày, hợp đồng liên kết với các tua du lịch ở các địa phương khác.

Thời kỳ 2011-2015 là thời kỳ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc xây dựng huyện NTM cả nước nói chung và huyện Nam Đông nói riêng, vừa là mục tiêu, yêu cầu của phát triển bền vững, vừa là nhiệm vụ cấp bách, là chủ trương có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng của trung ương, tỉnh và địa phương. Phát huy huyện Anh hùng thời kỳ đổi mới toàn Đảng bộ và nhân dân huyện Nam Đông đồng tâm hiệp lực quyết tâm, nổ lực phấn đấu xây dựng thành công huyện NTM, đồng thời góp phần xây dựng Thừa Thừa Thiên Huế sớm trở thành Thành phố trực thuộc Trung ương.

Đối chiếu 19 bộ tiêu chí Quốc gia về xây dựng NTM, đến nay huyện Nam Đông có 10 tiêu chí đạt chuẩn. Từ nay đến năm 2015, phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân mỗi năm trên 17%. Giá trị ngành nông lâm nghiệp tăng 14,5%; giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tăng 33,5%; giá trị ngành thương mại – dịch vụ tăng 15,2%. Nâng thu nhập bình quân đầu người đến năm 2015 đạt 19,5 triệu đồng… Phấn đấu đến năm 2015, toàn huyện có 80% xã đạt chuẩn NTM.


XÃ QUẢNG THÀNH, HUYỆN QUẢNG ĐIỀN
TRÊN CON ĐƯỜNG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

                                                                                       Phan Đình Toan
UVTT, UBMTTQVN xã Quảng Thành

Xã Quảng Thành cách thành phố Huế 7 Km về hướng bắc và huyện lỵ Quảng Điền 7 Km về hướng Nam, có tổng diện tích 1.008 ha, trong đó diện tích trồng lúa 501 ha, nuôi trồng thuỷ sản 95 ha, diện tích trồng rau 65 ha. Dân số toàn xã hiện có 2.594 hộ và 11.734 khẩu (Lao động 6.390, trong đó lao động nông nghiệp 2.985, dịch vụ thương mại, làm ăn ở các tỉnh bạn 2.775, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp 630). Hiện nay xã đang vươn mình trên con đường xây dựng nông thôn mới.

Hệ thống chính trị vững mạnh toàn diện, Đảng bộ đạt trong sạch vững mạnh liên tục từ năm 1992 cho đến nay.

Kinh tế phát triển từ giá trị trên đơn vị diện tích 30 triệu đồng/ năm của những năm 90, đến nay đã trên 70 triệu đồng, năng suất lúa từ 8 tấn/ ha đã đạt năng suất đội trần 13 tấn/ ha. Một ha trồng rau đã đạt 150 triệu đồng, chăn nuôi phát triển mạnh, nuôi trồng thuỷ sản những năm gần đây thả nuôi theo hướng xen canh đã mang lại hiệu quả và có lãi...

Văn hoá xã hội luôn đựơc chú trọng, các lễ hội của địa phương được phát huy và gìn giữ, các tập tục lạc hậu được đẩy lùi, 9/9 làng đã đăng ký xây dựng đời sống văn hoá và làng không có tội phạm và tệ nạn xã hội, công tác dân số kế hoạch hoá gia đình được duy trì, 9/9 làng đã đưa nội dung áp dụng theo nghị quyết 4043 của Uỷ ban nhân dân tỉnh vào các hương ước, quy ước làng văn hoá và đăng ký khu dân cư không có người sinh con thứ ba trở lên,hiện nay sau 3 năm đã có 2 khu dân cư đang đạt chuẩn. Tình hình đời sống của nhân dân không ngừng được cải thiện, Tỷ lệ hộ khá, giàu ngày càng tăng, hộ nghèo theo chuẩn mới của điều tra năm 2010 là 377 hộ, chiếm tỷ lệ 14,5% thấp nhất trong toàn huyện, đã cơ bản xoá nhà tạm cho nhân dân, chỉ còn 19 gia đình hưởng hỗ trợ xây dựng nhà ở cho hộ nghèo và cũng sẻ hoàn thành vào năm 2012. Công tác chăm lo cho gia đình chính sách, các đối tượng xã hội, hộ nghèo, người cao tuổi, nạn nhân chất độc da cam luôn đảm bảo theo chính sách của Đảng, nhà nước và nhân dân cùng chung lo thể hiện tình cảm, tương thân tương ái, phát huy tình làng nghĩa xóm. Công tác Giáo dục được xã hội hoá khá toàn diện, tỷ lệ học sinh bỏ học trong độ tuổi giảm, chất lượng dạy và học đựơc nâng lên, cơ sở vật chất được xây dựng để chuẩn hoá ở các cấp học, có 9/9 làng và 4/4 trường học, 6 dòng họ có tổ chức hội khuyến học đã động viên phong trào nhà nhà thi đua cho con em học tập, động viên các em vươn lên trong học tập, trong những năm qua bình quân mỗi năm có trên 70 em đỗ vào Đại học, Cao đẳng, và có điều kiện theo học hết chương trình, không có tình trạng do khó khăn về kinh tế mà phải bỏ học. Tỷ lệ hộ dùng điện 100%, dùng nước sạch 100%, tỷ lệ hộ có nhà xây kiên cố 89%.

Xây dựng cơ bản năm 2011 trên đất Quảng Thành diễn ra rất sôi động như: Bờ kè tuyến sông từ Quảng An về Thành Trung, tuyến An Thành đi hạ đồng đầu tư trên 45 tỷ đồng, trường tiểu học số 1 với 8 phòng học, trường tiểu học số 3 với 10 phòng học, trường mầm non Kim Thành với 4 phòng học với tổng kinh phí trên 6 tỷ đồng sẽ cùng với các công trình khác như kè sông Thanh Hà đi Kim Đôi, đường Nội thị, đường vành đai Tây Quảng Thành, mở rộng đường tỉnh lộ 4B, hệ thống điện chiếu sáng... và hệ thống kênh mương thuỷ lợi kiên cố đang làm cho bộ mặt nông thôn của xã có dáng dấp của đô thị trong tương lai.

Thực hiện nghị quyết Đại hội huyện Đảng bộ Quảng Điền lần thứ 12. Công văn số 2991/UBND-NN do chủ tịch tỉnh Nguyễn Văn Cao ký ngày 22 tháng 7 năm 2011 về việc xây dựng nông thôn mới và chủ trương của tỉnh cho phép lồng ghép xây dựng quy hoạch chung thị trấn Thanh Hà, xã Quảng Thành trong quá trình lập quy hoạch xây dựng nông thôn mới, đối với Đảng bộ, chính quyền và nhân dân xã Quảng Thành, đây chính là thời cơ, vận hội mới để xã nhà thay da đổi thịt, vươn lên tầm cao mới, khi hoàn thành 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, vừa là nhiệm vụ nặng nề xuyên suốt cả 5 năm.

Xác định tầm quan trọng và sự cần thiết phải xây dựng xã nông thôn mới, Thường vụ Đảng uỷ đã ra nghị quyết, thành lập ban chỉ đạo gồm 7 đồng chí, trong đó 5 đồng chí thường vụ và 2 đồng chí phó chủ tịch Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân. Tổ chức triển khai chủ trương đến tận chi bộ để có chương trình hành động, lãnh đạo phong trào của từng khu dân cư, mỗi một đảng viên thực sự là người gương mẫu, vừa là người tuyên truyền vận động nhân dân cùng hăng hái tham gia. Thành lập ban quản lý xây dựng nông thôn mới gồm 20 đồng chí do đồng chí chủ tịch uỷ ban nhân dân xã làm trưởng ban, thành lập 9 ban phát triển thôn, do trưởng thôn làm trưởng ban, tổ chức 4 lần hội nghị để mở rộng dân chủ, tranh thủ hiến kế của các thành viên và triển khai việc lập kế hoạch có sự tham gia của cộng đồng đến tận 9 thôn trên địa bàn, đến ngày 16 tháng 8 năm 2011 các thôn đã hoàn tất kế hoạch sau khi đã thông qua hội toàn thể nhân dân của từng thôn. Qua tổng hợp số liệu chung của toàn xã thì đã có 8 tiêu chí đạt theo bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới, còn lại 11 tiêu chí đang được tiến hành khẩn trương và dự kiến hoàn thành trong những tháng cuối năm nay, đòi hỏi phải có nỗ lực lớn và sự đồng tình ủng hộ của nhân dân.

Thực hiện lời dạy của Bác Hồ " Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong" Đảng bộ và chính quyền địa phương đã tập trung vận động tuyên truyền chủ trương xây dựng nông thôn mới đến tận nhân dân qua các kênh như hệ thống đài truyền thanh xã, tại các cuộc hội nghị thôn và ngay cả những lúc chuyện trò trao đổi với phương châm " Mưa dầm thấm đất" đã chuyển tải toàn bộ nội dung về xây dựng nông thôn mới đến tận người dân, công khai các kế hoạch phát triển của từng thôn và nhất là các khoản đóng góp từ nhân dân, hiến đất để thực hiện các công trình, nhìn chung trong tháng 7 và 8 đã làm ráo riết, công khai dân chủ và đã nhận được sự đồng tình cao từ phía nhân dân.

Công tác dân vận cũng đã được phát huy, các ban công tác mặt trận, các đoàn thể thôn đã vào cuộc rất đồng bộ và hiệu quả thiết thực. Trong chặng đường tiếp theo Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã đã có kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn, tiếp tục phát huy vai trò chức năng nhiệm vụ của mình cùng phối hợp trách nhiệm với chính quyền để đi sâu vào từng khu dân cư để tăng cường công tác tuyên truyền vận động, sao cho toàn xã là một khối thống nhất chủ trương và hành động.

Chắc chắn việc xây dưng nông thôn mới, kinh tế sẽ phát triển cao hơn, đời sống vật chất, tinh thần không ngừng được nâng lên, bộ mặt nông thôn sẽ phát triển theo quy hoạch, môi trường sinh thái được bảo vệ, dân trí nâng cao, phát huy và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc, chất lượng hệ thống chính trị ngày được nâng cao hơn và sẽ là điều kiện để Quảng Thành sớm trở thành thị trấn Thanh Hà trong tương lai không xa.


NGHĨA TÌNH BIÊN GIỚI

                                                                       Trung tá Nguyễn Quang Vinh
Trưởng ban Tuyên huấn BĐBP tỉnh

Bảo vệ biên giới quốc gia là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó lực lượng Bộ đội Biên phòng là lực lượng chuyên trách nòng cốt. Những năm qua Bộ đội Biên phòng Thừa Thiên Huế đã có nhiều chủ trương, biện pháp phối hợp với các ngành, các địa phương củng cố cơ sở chính trị ở cơ sở, phát triển kinh tế xã hội- củng cố Quốc phòng an ninh khu vực tuyến biên giới vùng biển của tỉnh. Năm 2011 Bộ chỉ huy Biên phòng tỉnh đã xác định nhiệm vụ xây dựng "Nền Biên phòng toàn dân" vững mạnh, trong đó nhiệm vụ tuyên truyền vận động quần chúng nhân dân trên 2 tuyến biên giới vùng biển là nhiệm vụ trọng tâm xuyên suốt, có ý nghĩa quan trọng, hình thành thế trận lòng dân vững mạnh, góp phần xây dựng và bảo vệ chủ quyền an ninh biên giới của Tổ quốc.

Sau đợt phối hợp với Thường trực Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh xây dựng được 56 nhà "Mái ấm nơi biên giới" và 20 nhà "Nghĩa tình Trường Sơn" ở các xã Biên giới huyện A Lưới. Bộ đội biên phòng tiếp tục phối hợp với các ngành, cấp ủy chính quyền địa phương xã Hồng Thủy tổ chức đội công tác gồm 16 đồng chí cán bộ chiến sĩ xuống địa bàn thôn 1 để giúp dân ổn định đời sống trong chương trình thực hiện dự án xây dựng nhà tái định cư cho nhân dân khu vực sạt lở. Bà con nhân dân mới đến nhận nhà được bàn giao, công việc của từng gia đình còn bộn bề, công việc trước mắt của các anh là tuyên truyền và cùng nhân dân dọn dẹp vệ sinh môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh phát sinh. Cùng các gia đình làm bếp, dựng bờ rào, làm lối đi quanh nhà, ngoài ra các anh bộ đội Biên phòng lại tiếp tục cùng dân qui hoạch vườn tạp, lựa chọn giống cây trồng phù hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng, có giá trị kinh tế cao để trồng, có thể trở thành hàng hóa trong nền kinh tế thị trường, giúp dân từng bước xóa đói giảm nghèo, thay đổi thói quen canh tác lạc hậu. Sau một thời gian tích cực vừa vận động tuyên truyền, vừa cùng dân cùng ăn, cùng làm, cùng bàn bạc hơn 70 hộ tái định cư đã ổn định đời sống, vùng đất mới đã xanh màu, báo hiệu sự sống tràn đầy sinh lực trên mảnh đất màu mỡ, tươi non khu vực biên giới.

Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp thăm tặng quà cho các gia đình thương binh liệt sĩ trong khu vực biên giới huyện A Lưới nhân dịp kỷ niệm 63 năm ngày thương binh Liệt sĩ 27/7 trị giá trên 28 triệu đồng. Cùng với Hội chữ thập đỏ tỉnh tổ chức thăm hỏi tặng quà cho các nạn nhân bị nhiễm chất độc Đi ô Xin/Da cam, cấp phát thuốc miễn phí hơn 23 triệu đồng. Thực hiện chương trình phối hợp tuyên truyền vận động Dân số - Kế hoạch hóa gia đình, Bộ đội biên phòng tỉnh đã phối hợp với Chi cục dân số, Kế hoạch hóa gia đình tỉnh tổ chức 2 đợt tuyên truyền dã ngoại tại các thôn bản biên giới vùng biển cho 1.534 lượt người, qua các đợt tuyên truyền quần chúng nhân dân ở các vùng sâu vùng xa đã nâng cao nhận thức trách nhiệm của mình, có cách nhìn nhận đúng đắn về thực hiện Pháp lệnh Dân số, về cách tự bảo vệ trước các hiểm họa HIV/AIDS, tự giác thực hiện kế hoạch hóa gia đình, xây dựng gia đình ít con, hạnh phúc. Nhìn những gương mặt phấn khởi, hào hứng thấp thoáng sau những căn nhà khang trang, sạch sẽ thay thế cho những nghi ngại, lo lắng, boăn khoăn trước lúc đến định cư, đã phần nào thể hiện rõ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cấp các ngành đối với đồng bào các dân tộc, qua đó củng cố niềm tin vào chế độ xã hội chủ nghĩa, thôi thúc bà con một lòng một dạ đi theo con đường của Đảng, Bác Hồ, quyết tâm cùng Bộ đội biên phòng bảo vệ vững chắc từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc.

Không những quan tâm vận động nhân dân trong nước, Bộ đội Biên phòng còn tiến hành nhiều đợt tuyên truyền vận động nhân dân của nước Bạn Lào anh em khu vực sát biên giới trong việc chấp hành các hiệp định, hiệp nghị, qui chế biên giới, phối hợp với các bản giáp biên của Việt Nam bảo vệ đường biên, cột mốc quốc gia của 2 nước, hiểu rõ chủ trương dự án tôn tạo tăng dày mốc Quốc giới Việt Nam- Lào. Trước tình hình di dịch cư của các thôn bản của Lào sát biên giới, Bộ đội biên phòng đã chủ động tham mưu cho lãnh đạo tỉnh Thừa Thiên Huế quan tâm hỗ trợ làm nhà " Hữu nghị" tại bản Ka Lô, huyện Kuwf Lùn, tỉnh SêKông. Tiếp tục giúp nhân dân các bản bản I Reo, A Bả của Bạn tu sửa, lợp nhà, canh tác, trồng lúa nước, chăn nuôi gia súc, gia cầm, cải tạo ao vườn, trồng rừng để phát triển kinh tế gắn với bảo vệ sinh thái, môi trường, ngăn ngừa tình trạng chặt phá cây rừng, đốt nương rẫy, không để tái diễn cuộc sống du canh, du cư ảnh hưởng đến công tác bảo vệ quản lý biên giới chung của 2 nước. Hướng dẫn cho bà con phòng chống dịch bệnh, phun thuốc diệt muỗi, côn trùng, tẩm màn hóa chất, trực tiếp cử cán bộ quân y sang tận nơi khám chữa bệnh, cấp phát thuốc cho bà con hơn 12 triệu đồng. Bộ đội Biên phòng thành lập các trạm quân dân y ở các thôn bản giáp biên, ở trạm Cửa khẩu A Đớt nhằm giúp khám chữa bệnh cho nhân dân sinh sống dọc biên giới 2 nước, không để nhân dân phải lặn lội đường xá xa xôi đến các trung tâm Y tế của huyện để khám và điều trị. Tình cảm giữa Bộ đội biên phòng với bà con các bản giáp biên nước bạn Lào ngày càng thắm đượm tình cảm cao đẹp của 2 dân tộc, 2 nước Việt - Lào anh em, nhân dân các thôn bản của Bạn Lào ngày càng tin tưởng vào các anh Bộ đội Biên phòng, yên tâm lao động, sản xuất làm ăn, cùng các thôn bản giáp biên của Việt Nam phối hợp với Bộ đội biên phòng trong tuần tra bảo vệ Biên giới, chung sức đấu tranh với các loại tội phạm, nhất là các tội phạm Ma túy, buôn bán vũ khí vật liệu nổ, buôn bán phụ nữ và trẻ em qua biên giới. Tuyên truyền vận động nhân dân chấp hành đúng qui chế biên giới, không vượt biên, di dịch cư trái phép qua biên giới. Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị đặc biệt, bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh biên giới quốc gia, tạo tiền đề vững chắc để xây dựng đất nước, xây dựng quê hương Thừa Thiên Huế giàu đẹp, sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương như Kết luận 48 của Bộ Chính trị./.


HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA BAN THANH TRA NHÂN DÂN
CƠ SỞ Ở HUYỆN PHÚ LỘC

                                                                             Nguyễn Văn Lâm
Phó Chủ tịch UBMT huyện Phú Lộc

Thanh tra nhân dân (TTND) là hình thức giám sát của nhân dân thông qua Ban TTND ở xã, phường, thị trấn (cấp xã) do Ủy Ban Mặt trận hướng dẫn và chỉ đạo hoạt động. Nhân dân giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, cán bộ, công chức Nhà nước, đại biểu dân cử thông qua Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, nhất là được giám sát thông qua hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng... Tức là nhân dân có tổ chức mới tạo ra sức mạnh để thực hiện quyền giám sát của mình có hiệu quả và được Pháp luật bảo vệ.Có ưu điểm đó là hình thức giám sát của nhân dân nên dễ giám sát, được giám sát một cách thường xuyên, sâu sát thông qua cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của người dân, vai trò giám sát của nhân dân được phát huy, nhất là xây dựng và thực hiện dân chủ ở cơ sở với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân giám sát , kiểm tra”

           9_copy_copy_copy

Tuy nhiên, hình thức giám sát này cũng có nhược điểm nhất định, đó là: Vì là giám sát của nhân dân nên kiến nghị của nhân dân không mang tính quyền lực. Nhân dân phải kiến nghị lên cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, điều này dẫn đến tình trạng kéo dài thời gian giải quyết; hơn nữa do trình độ, năng lực của phần lớn người dân chưa cao nên việc giám sát có lúc chưa chính xác, nhất là đối với các vụ việc phức tạp.

Từ nhận thức về lý luận như trên và gắn với hoạt động thực tiễn công tác Dân chủ và Pháp Luật ở cơ sở, Mặt trận TQVN huyện Phú Lộc đã tăng cường chỉ đạo hoạt động của Ban TTND cơ sở ở huyện Phú Lộc ngày càng có hiệu quả.

Trước hết, đó là công tác xây dựng và củng cố tổ chức luôn được chú trọng để có điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động, đến tháng 8/2011 đã củng cố, kiện toàn Ban TTND 18 xã, thị trấn có 176 thành viên. Các Ban TTND đều do đ/c Phó Chủ tịch Mặt trận xã, thị trấn chuyên trách làm Trưởng ban; Trưởng, Phó BanTTND đều đã được tập huấn nghiệp vụ do Thanh tra Nhà nước huyện phối hợp với Ban thường trực Mặt trận huyện tổ chức, còn các thành viên TTND được Ban thường trực UBMT xã, thị trấn tổ chức tập huấn theo kế hoạch hướng dẫn và nội dung biên soạn của Ban TT UBMT huyện để Mặt trận xã, thị trấn chủ động hướng dẫn xây dựng quy chế làm việc của Ban TTND từng xã, thị trấn theo nội dung quyết định số 969/ QĐ-MTTW, ngày 05/7/2006 của Ban thường trực Uỷ ban Trung ương Mặt trận TQVN về Ban hành quy chế làm việc mẫu của Ban TTND cấp xã. Chính những điều đó đã xác định được trách nhiệm, phạm vi thực hiện nhiệm vụ; Lề lối làm việc; Quan hệ giữa Ban TTND với cấp uỷ Đảng, Chính quyền, Mặt trận tổ quốc và nhân dân địa phương, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động.

       Cụ thể là công tác xây dựng chương trình, kế hoạch, nội dung hoạt động của Ban TTND xã, thị trấn đã bám sát vào Nghị quyết HĐND, chương trình hành động thực hiện nhiệm vụ công tác Mặt trận và sự chỉ đạo của BTT.UBMT huyện và các xã, thị trấn để nâng cao hiệu quả hoạt động.

       Trong quá trình hoạt động của Ban TTND xã, thị trấn từ năm 2009 đến nay đã tập trung giám sát, phát hiện 109 vụ việc, trong đó kiến nghị chính quyền và các cơ quan chức năng xử lý 98 vụ việc. Trong số vụ việc kiến nghị được chính quyền giải quyết 85 vụ việc, trong đó nổi bật nhất là vụ việc tham nhũng tiền trợ cấp dầu cho ngư dân trong năm 2009 của xã Lộc Vĩnh và TT Lăng Cô được phát hiện kịp thời để kiến nghị chính quyền giải quyết, xử lý kỷ luật buộc thôi việc 2 cán bộ; Trong thực hiện nghị quyết liên tịch số 09/2008/NQLT-CP-UBTWMTTQVN của chính phủ và UBTWMTTQVN hướng dẫn thi hành các Điều11,Điều 14,Điều 16, Điều 22 và Điều 26 của Pháp lệnh thực hiện dân ở Xã, Phường, Thị trấn, các Ban TTND đã làm nòng cốt trong công tác giám sát việc tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với Chủ tịch, Phó chủ tịch HĐND và UBND xã, thị trấn năm 2010 cho 55/77 vị được lấy phiếu tín nhiệm, có 50 vị có tín nhiệm trên 70% và có 05 vị có tín nhiệm từ 50- dưới 70%; đã được Ban TTND các xã kiến nghị không giới thiệu ứng cử đại biểu HĐND nhiệm kỳ này; hoặc như trong công tác hiệp thương giới thiệu người ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2011-2016 đã được các Ban TTND có kế hoạch giám sát cụ thể về công tác Mặt trận tham gia cuộc bầu cử nên có kết quả cao . Nhiều Ban TTND xã, thị trấn hoạt động tích cực và có hiệu quả như: Ban TTND xã Vinh Hiền đã có nhiều thành tích trong phát hiện kịp thời nhiều vụ việc thiếu sót trong thực hiện chương trình định cư dân thủy diện và xây dựng nhà ở cho hộ nghèo nên đã được Ủy Ban Trung ương Mặt trận TQVN tặng bằng khen đơn vị có nhiều thành tích trong hoạt động giai đoạn 2006- 2010; Ban TTND thị trấn Phú Lộc đã giám sát, kiến nghị chính quyền xem xét giải quyết 60 vụ việc, nỗi bật nhất là trong việc lấn chiếm đất đai trái phép, kết quả đã thu hồi được 91,3m2 đất công; Ban TTND xã Lộc Điền đã làm tốt công tác giám sát đầu tư của cộng đồng theo quyết định 80/2005/QĐ.TTg của Thủ tướng Chính phủ về giám sát đầu tư của cộng đồng trên địa bàn xã, nhất là đối với các dự án được các tổ chức, cá nhân đầu tư cho địa phương, được lãnh đạo xã đánh giá cao, được nhân dân tin tưởng. Ban TTND cũng đã tích cực phối hợp tổ chức hòa giải tại cơ sở 70 vụ việc. Trong đó, có hơn 80% được hòa giải thành, chủ yếu là tranh chấp đất đai, mâu thuẫn trong nội bộ cộng đồng dân cư. Số vụ việc còn lại không hòa giải được đã kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý.

Qua công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động cho thấy vai trò của Ban TTND trong giám sát việc giải quyết tốt đơn, thư khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền của địa phương đã được chú trọng hơn trong việc theo dõi, giám sát để kịp thời phản ảnh với cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận xem xét giải quyết, đánh giá hoạt đông giám sát trong các cuộc họp thường kỳ cũng như đột xuất. Đồng thời để Mặt trận tổng hợp thông báo trong các kỳ họp HĐND xã, thị trấn. Đặc biệt là trong thực hiện QCDC ở cơ sở, Thông qua các buổi sinh hoạt của nhân dân cũng như các buổi tiếp dân để nắm bắt tình hình và tâm tư nguyện vọng của nhân dân để thực hiện chức năng giám sát, kiến nghị chính quyền xem xét giải quyết đúng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, quá trình hoạt động của các Ban TTND đang gặp phải hạn chế nhất định đó là điều kiện hoạt động chưa được quan tâm nhiều, nhất là về chế độ chính sách cho Trưởng, phó Ban để kịp thời động viên tâm huyết, gắn bó với tổ chức và hoạt động của Ban TTND ở cơ sở.

Từ kết quả hoạt động của Ban TTND xã, thị trấn trong những năm qua ở huyện Phú Lộc rút ra những kinh nghiệm đó là:

- Tăng cường công tác tuyên truyền nâng cao nhận thứccủa cấp ủy, Chính quyền về công tác dân chủ và pháp luật của Mặt trận để tranh thủ sự lãnh đạo của cấp ủy, phối hợp tậo điều kiện của Chính quyền, kịp thời hướng dẫn Mặt trận cơ sở chỉ đạo thực hiện những quy định của Pháp luật về TTND cấp xã;

- Thường xuyên quan tâm công tác xây dựng và củng cố tổ chức và chỉ đạo hoạt động của 18 Ban TTND xã, thị trấn, đảm bảo đủ số lượng, nâng cao về chất lượng, kỷ năng hoạt động giám sát;

- Làm tốt công tác đào tạo , bồi dưỡng cán bộ Mặt trận chuyên trách ở cơ sở, phân công Phó chủ UBMT cấp xã kiêm nhiệm Trưởng Ban TTND xã, thị trấn để phát huy vai trò tham gia xây dựng, giám sát và bảo vệ Chính quyền ngày càng trong sạch, vững mạnh toàn diện./.


KẾT QUẢ BƯỚC ĐẦU THỰC HIỆN CUỘC VẬN ĐỘNG “NGƯỜI VIỆT NAM ƯU TIÊN DÙNG HÀNG VIỆT NAM” TẠI THỪA THIÊN HUẾ

                                                              Phạm Văn Trai
Phòng quản lý Thương mại Sở Công Thương

Hưởng ứng Cuộc vận động "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” theo Kết luận số 264-TB/TW Bộ Chính trị, triển khai thực hiện Nghị Quyết số 18/NQ-CP ngày 06/4/2010 của Chính phủ về những giải pháp bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, không để lạm phát cao và đạt tốc độ phát triển kinh tế khoảng 6,5% trong năm 2010, Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP ngày 24/2/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo an sinh xã hội; dưới sự chỉ đạo của Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế, qua gần 2 năm triển khai hưởng ứng Cuộc vận động, Sở Công Thương đã thực hiện một số việc sau:

- Xây dựng phương án phối hợp với các địa phương, các tổ chức, đoàn thể, hội nghề nghiệp triển khai nội dung Cuộc vận động đến các tầng lớp nhân dân; trong đó chú trọng đến hệ thống các chợ, siêu thị, trung tâm thương mại trên địa bàn toàn tỉnh.

- Phối hợp với cơ quan thông tấn báo chí tổ chức tuyên truyền nội dung Cuộc vận động Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt Nam, quảng bá Chương trình Tháng bán hàng khuyến mại hàng năm thông qua các phóng sự, chuyên mục, quảng cáo trên các phương tiện truyền thông, trên website của Sở Công Thương và các phương tiện thông tin khác. Ngoài ra, còn tuyên truyền bằng các hình thức cổ động trực quan như treo băng rôn, áp phích, tuần hành biểu dương lực lượng với sự tham gia của hàng ngàn lượt người vào những dịp tổ chức Lễ Phát động Cuộc vận động Người Việt ưu tiên dùng hàng Việt Nam, Lễ Khai mạc Tháng bán hàng khuyến mại …

- Vận động các doanh nghiệp trong tỉnh tham gia các hoạt động thiết thực như:

+ Tổ chức nhiều đợt đưa hàng Việt về các địa phương vùng sâu, vùng xa theo chương trình bán hàng khuyến mại, chương trình bán hàng bình ổn giá vào dịp Tết cổ truyền với tổng giá trị hàng hóa khoảng 2,6 tỷ đồng.

+ Nhân tháng bán hàng khuyến mại của tỉnh tổ chức vào tháng 9 năm 2010, có hơn 80 doanh nghiệp trong ngoài tỉnh tham gia tổ chức trên 230 chương trình khuyến mại với 600 điểm kinh doanh, giá trị sản phẩm bán hàng khuyến mại đăng ký 260 tỉ đồng, giá trị sản phẩm khuyến mại 11 tỉ.

Dịp này các doanh nghiệp còn tổ chức các phiên chợ bán hàng Việt khuyến mại tại các huyện, vùng xa, miền núi như tại thị trấn A Lưới, thị trấn Khe Tre (huyện Nam Đông), xã Quảng Phước (huyện Quảng Điền), xã Phong Mỹ (huyện Phong Điền), xã Phú Mỹ, xã Phú Đa (huyện Phú Vang), xã Vinh Hưng (huyện Phú Lộc), xã Bình Điền (huyện Hương Trà)…. Doanh số mỗi phiên chợ bình quân đạt gần 200 triệu đồng.

+ Một số doanh nghiệp thương mại như Công ty Thương mại Huế, Công ty CP Thương mại Đông Ba, DNTN Vạn Thành, Công ty TNHH Vĩnh Phát, Công ty TNHH Phúc Phú… thường tổ chức xe lưu động hàng ngày đi phân phối hàng Việt tại địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa với doanh số khoảng gần 20 tỷ đồng/tháng.

+ Phối hợp với các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ Công Thương tổ chức tập huấn văn minh thương mại cho hộ kinh doanh, tiểu thương trên địa bàn thành phố Huế, thị xã Hương Thủy; tập huấn kỹ năng tìm kiếm thị trường và xúc tiến bán hàng cho hội viên Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh, nhân viên bán hàng HTX TM&DV Thuận Thành...

Với những việc làm nêu trên, Cuộc vận động phong trào "Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” bước đầu có những chuyển biến tích cực, như:

- Tạo sự thay đổi về nhận thức, sự tự giác, chủ động của doanh nghiệp trên các lĩnh vực qua việc quảng bá thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm tiếp cận thị trường, đặc biệt là thị trường nông thôn, làm cho hoạt động thị trường nội địa ngày càng khởi sắc. Các doanh nghiệp đã chú trọng hơn đến việc tạo vị thế, khẳng định thương hiệu, quan tâm nhiều hơn đến dịch vụ hậu mãi, thể hiện trách nhiệm đối với xã hội.

- Dư luận xã hội, đặc biệt là giới trẻ đã có những nhận xét khách quan, tốt đẹp, phần nào thay đổi về cách nhìn nhận đối với hàng Việt. Người tiêu dùng cảm thấy tin tưởng hơn về chất lượng, thương hiệu của hàng Việt Nam.

- Các cơ quan thông tấn, báo chí TW và địa phương rất quan tâm, tích cực phản ánh mọi hoạt động, thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội góp phần làm chuyển biến nhận thức của người dân đối với phong trào dùng hàng Việt Nam.

- Công tác quản lý thị trường, chống gian lận thương mại, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng được tăng cường đã tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Tuy vậy cần thẳng thắn nhìn nhận những vấn đề tồn tại:

- Phần lớn doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh đều có quy mô vừa và nhỏ; doanh nghiệp sản xuất hàng hóa không nhiều, chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực phân phối. Do vậy khó có điều kiện mở rộng địa bàn hoạt động; chi phí phục vụ khuyến mại, hỗ trợ người tiêu dùng trong việc tiêu thụ hàng hóa còn hạn chế.

- Thu nhập người dân, đặc biệt là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa chưa cao; điều kiện để mua sắm cho cá nhân, gia đình còn hạn chế đã ảnh hưởng lớn đến sức mua toàn xã hội.

- Trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc thông tin cho người tiêu dùng về chất lượng, tiêu chuẩn hàng hóa; công tác kiểm tra, xử lý nghiêm những vi phạm hàng giả, hàng lậu, hàng kém chất lượng có lúc chưa được thực hiện triệt để.

- Nguồn tài trợ từ các doanh nghiệp, nguồn hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước còn hạn hẹp nên việc tổ chức các hoạt động gặp khó khăn.

Để Cuộc vận động tiếp tục lan tỏa rộng, mạnh mẽ hơn, thực sự đi vào chiều sâu, góp phần đẩy mạnh sản xuất trong nước, tôn vinh hàng Việt, cần có những giải pháp cụ thể:

- Việc thực hiện Nghị quyết số 11/2011/NQ-CP của Chính phủ sẽ được tiếp tục trong các năm tiếp theo, vì vậy cần xây dựng kế hoạch dài hơi bao gồm nhiều nội dung về công tác xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm, thương hiệu doanh nghiệp; hoàn thiện hệ thống phân phối, đặc biệt chú trọng địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa…

- Tiếp tục phối hợp chặt chẽ các tổ chức, đoàn thể, các địa phương đẩy mạnh công tác tuyên truyền để người tiêu dùng nhận thức đúng khả năng sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam và chất lượng của sản phẩm, hàng hóa Việt Nam. Đổi mới hình thức, nội dung tuyên truyền cho phù hợp với mọi tầng lớp nhân dân trong xã hội.

- Tăng cường công tác quản lý thị trường, kiên quyết chống buôn lậu, hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng; kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực thương mại theo đúng quy định của pháp luật.

- Các tổ chức, hội nghề nghiệp, các địa phương chủ động xây dựng phong trào, vận động doanh nghiệp ở nhiều lĩnh vực tích cực, tự giác tham gia Cuộc vận động nhằm nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với xã hội, người tiêu dùng.

- Kinh phí triển khai Cuộc vận động cần được hỗ trợ nhiều hơn; các địa phương quan tâm giúp đỡ các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tham gia và có hình thức khen thưởng xứng đáng, kịp thời để động viên, nhân rộng những nhân tố xuất sắc, điển hình trong phong trào./.


THỪA THIÊN HUẾ

KẾT QUẢ
PHỐI HỢP TUYÊN TRUYỀN VẬN ĐỘNG NHÂN DÂN
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ

                                                                                             Hoàng Thế Lành
Phó trưởng ban Ban Phong trào UBMT tỉnh

Công tác dân số có tầm quan trọng đối với sự phát triển kinh tế-xã hội, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng dân số trong thời kỳ hội nhập.

11

        Cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư" do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phát động được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng, trong đó một trong sáu tiêu chí là khu dân cư không có người sinh con thứ ba và làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân. Để đạt tiêu chí trên, hàng năm Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh phối hợp với các ngành chức năng tổ chức hơn 200 buổi hội nghị truyền thông trong các khu dân cư với nội dung về dân số, môi trường, phòng chống các tệ nạn xã hội, HIV/AIDS; đồng thời tổ chức hội thi Ban công tác mặt trận giỏi với vấn đề dân số và CSSK cộng đồng nhằm làm thay đổi nhận thức của nhân dân. Ngoài ra, MTTQ còn phối hợp với ngành Dân số, Văn hóa Thể thao - Du lịch, Tư pháp xây dựng hướng dẫn liên ngành về việc đưa chính sách dân số, gia đình, trẻ em vào hương ước, quy ước thôn làng, tổ dân phố, làm tiêu chí xét công nhận thôn làng, cơ quan đơn vị đạt danh hiệu "đơn vị văn hóa". Đến nay toàn tỉnh có hơn 1000 /1455 thôn làng xây dựng hương ước, quy ước có những quy định về chính sách DS-GĐ và TE, tại các vùng có đông đồng bào các tôn giáo Mặt trận các cấp đã phối hợp xây dựng vùng giáo an toàn, tranh thủ vận động các Hội đồng giáo xứ vận động giáo dân thực hiện chăm sóc sức khỏe sinh sản, xây dựng mô hình " Gia đình no ấm, tiến bộ, bình đẳng, hạnh phúc"; tổ chức các buổi dạy giáo lý về Hôn nhân gia đình được các vị chức sắc, đồng bào có đạo hưởng ứng thực hiện. Hàng năm, các cơ sở tôn giáo tích cực hưởng ứng các phong trào, các cuộc vận động do Mặt trận phát động như Đền ơn đáp nghĩa, từ thiện nhân đạo, giử vững an ninh trật tự, thực hiện tuyến phố xanh sạch đẹp.

          Ngoài ra, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tổ chức hội thảo "Phát huy vai trò, vị trí Mặt trận trong tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện chính sách dân số KHHGĐ” đã thu hút chức sắc các tôn giáo tham gia với nhiều tham luận nói lên sự tương đồng của giáo lý các tôn giáo với chính sách dân số và những kinh nghiệm, cách làm hay trong tuyên truyền, thực hiện chính sách DS-KHHGĐ đối với vùng có đông đồng bào có đạo ở khu dân cư; mở diễn đàn cho các vị chức sắc, chức việc, nam nữ trong độ tuổi sinh đẻ, đồng bào giáo dân với gần 1000 lượt người tham dự nhằm mục đích tuyên truyền, vận động trực tiếp, cung cấp những kiến thức về lĩnh vực DS - CSSKSS cho nhân dân.Từ những nhiệm vụ trên đã góp phần xây dựng 833/1317 (năm 2010) khu dân cư đăng ký không sinh con thứ 3 trở lên; trong đó có 16 khu dân cư đạt năm năm không có người sinh con thứ 3, được UBND tỉnh xét khen thưởng. Tỉ lệ phát triển dân số 1,23% so với bình quân cả nước 1,2%; số gia đình đạt chuẩn văn hóa chiếm gần 80% số hộ toàn tỉnh góp phần ổn định mức sinh, nâng cao chất lượng dân số phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh.
Hiện nay, cả nước đang triển khai cuộc vận động xây dựng Nông thôn mới, đô thị văn minh. Để ổn định mức sinh, nâng cao chất lượng dân số trong thời gian từ nay đến năm 2020, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh tỉnh đã cùng phối hợp liên ngành xây dựng đề án Nâng cao chất lượng dân số giai đoạn 2010 - 2020 gồm các nhóm giải pháp nâng cao chất lượng dân số vùng biển, ven biển, đầm phá và vùng đặc biệt khó khăn. Trong đó, nhóm giải pháp hoạt động truyền thông giáo dục, chuyển đổi hành vi để tạo sự cam kết ủng hộ của các cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức xã hội về chương trình nâng cao chất lượng dân số. Đẩy mạnh tuyên truyền tư vấn, hỗ trợ nâng cao sức khoẻ, thể chất, trí tuệ và tinh thần cho các nhóm đối tượng, triển khai các mô hình cung cấp dịch vụ và vận động để tăng sự chấp nhận sàng lọc sơ sinh tại cộng đồng theo Luật Hôn nhân - gia đình và Pháp lệnh dân số... Và mục tiêu quan trọng là sự tham gia tích cực của cả hệ thống chính trị đồng tâm, đồng lòng nâng cao chất lượng dân số để phát triển bền vững; góp phần tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao về thể chất, trí lực đủ tầm xây dựng Thừa Thiên Huế ngày càng văn minh, giàu đẹp.


HƯỞNG ỨNG NGHỊ QUYẾT CỦA LIÊN HỢP QUỐC “THẬP KỶ HÀNH ĐỘNG VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TOÀN CẦU”

                                                                   Lê Viết Hiền
Phó Chủ tịch UBMT thành phố Huế

Cùng với việc triển khai các giải pháp kiềm chế lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội, thành phố Huế đang tiếp tục triển khai chương trình xây dựng nếp sống văn minh đô thị, gắn với xây dựng tuyến phố văn minh và xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, nhằm góp phần thực hiện tốt Luật giao thông đường bộ, đồng thời hưởng ứng Nghị quyết của Liên hiệp quốc về “Thập kỷ hành động vì an toàn giao thông đường bộ toàn cầu”: cán bộ và nhân dân thành phố đặc biệt quan tâm đến vấn đề An toàn giao thông và hành động quyết liệt để hưởng ứng mạnh mẽ Nghị quyết của Liên hiệp quốc.

Trong 6 tháng đầu năm 2011, hệ thống Mặt trận từ thành phố đến các phường đã tăng cường công tác phối hợp thống nhất hành động với các cơ quan, ban ngành, các tổ chức thành viên đẩy mạnh công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về an toàn giao thông cho các đối tượng, đặc biệt là trong tầng lớp thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên; vận động nhân dân và hộ gia đình ký cam kết thực hiện nghiêm túc trật tự an toàn giao thông, trật tự đô thị và xây dựng gia đình văn hóa nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc và chấp hành nghiêm túc luật giao thông đường bộ, trật tự đô thị, không lấn chiếm lòng, lề đường và những nơi công cộng, bảo đảm giữ gìn vệ sinh môi trường, cảnh quan đô thị thành phố.

Thường xuyên phối hợp tổ chức các đợt kiểm tra, xử lý triệt để các trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, giữ gìn vệ sinh môi trường, trật tự đô thị, các hoạt động văn hóa, các cơ sở dịch vụ văn hóa, du lịch thể thao vi phạm các quy định về nếp sống văn hóa, nếp sống văn minh đô thị. Xây dựng các tiêu chí của tuyến phố văn minh, đồng thời phối hợp với các cơ quan thông tin báo chí xây dựng các chuyên mục nếp sống văn minh đô thị, an toàn giao thông tăng cường thời lượng phát sóng 3-4 buổi/ tuần để tuyên truyền giáo dục, phản ảnh gương những người tốt việc tốt về an toàn giao thông, trật tự đô thị và nếp sống văn minh đô thị.

Toàn thành phố đã phát hành 1000 tờ rơi về an toàn giao thông gắn với trật tựu đô thị - vệ sinh môi trường, 50 áp phích, 500 tờ rơi hưởng ứng Nghị quyết Liên hiệp quốc sáng kiến chương trình Thập kỷ hành động về an toàn giao thông đường bộ, trật tự an toàn giao thông; 135 cuốn tạp chí xây dựng đời sống văn hóa về cơ sở, thực hiện 6 phanô, 10 khẩu hiệu văn hóa và 15 buổi tuyên truyền lưu động, xây dựng 32 tuyến phố văn minh.

Nhìn chung trong thời gian qua, nhờ thực hiện các biện pháp tích cực tình hình thực hiện luật an toàn giao thông đường bộ gắn với chương trình xây dựng nếp sống văn minh đô thị và xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư trên địa bàn thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực và đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên để đạt được kết quả cao hơn, có tính bền vững cần phải tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền trong cán bộ, các tầng lớp nhân dân và các giải pháp, biện pháp thực hiện đồng bộ hơn nữa để Luật an toàn giao thông đường bộ, chương trình xây dựng nếp sống văn minh đô thị…ngày càng thấm sâu vào đời sống xã hội trên địa bàn Thành phố, thiết thực hưởng ứng “ Thập kỷ hành động bằng chiến lược an toàn giao thông đường bộ đến năm 2020”, tầm nhìn 2030 của Việt Nam./.


MẶT TRẬN VỚI CÔNG TÁC TIẾP CÔNG DÂN
VÀ THAM GIA GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO

                                                                       Nguyễn Tiến Nam
Phó Trưởng ban Ban DC-PL UBMT tỉnh

Trong những năm gần đây, nhất là từ khi có Luật Khiếu nại Tố cáo và các nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật khiếu nại tố cáo; công tác tuyên truyền phổ biến và động viên nhân dân thi hành pháp luật về khiếu nại tố cáo đã được các cấp, các ngành quan tâm hơn. Kết quả đạt được là nhờ nhận thức về quyền làm chủ của công dân từng bước được nâng cao; chính quyền cơ sở đã công khai các văn bản liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của công dân; các cơ quan chức năng của Tỉnh đã có nhiều biện pháp tích cực trong công tác tuyên truyền và phối hợp với cơ quan thông tấn báo chí như đài phát thanh truyền hình tỉnh, đài truyền thanh, Báo Thừa Thiên Huế, Thông tin Tư pháp,.. để tuyên truyền, giải thích cho nhân dân hiểu và nắm rõ hơn các quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo. Do vậy, tình hình khiếu kiện đông người đã từng bước giảm hẳn. Tuy nhiên bên cạnh đó vẫn có một số đơn thư tồn đọng và khiếu nại nhiều lần, tập trung chủ yếu là việc khiếu nại về đất đai, đền bù giải toả,... Đây là vấn đề phức tạp và nhạy cảm cần phải có nhiều thời gian để các cơ quan chức năng liên quan thẩm tra, xem xét giải quyết.

Trong những năm qua, việc tổ chức tiếp công dân của cơ quan UBMTTQVN tỉnh được thực hiện theo quy chế và bố trí cán bộ tiếp dân tất cả những ngày trong tuần, công dân đến cơ quan Mặt trận được xem xét hồ sơ và hướng dẫn, tư vấn pháp luật để thực hiện đúng các quy định của pháp luật và quy trình của việc giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo. Những ý kiến đóng góp của công dân đều được UBMTTQVN tỉnh tiếp thu, chọn lọc để phản ánh trong các phiên họp của HĐND tỉnh, trong các buổi giao ban với UBND tỉnh và các cơ quan liên quan kịp thời nghiên cứu giải quyết.

Ban Thường trực UBMTTQVN tỉnh đã hướng dẫn Ban Thường trực UBMTTQVN các huyện, thị xã Hương Thuỷ và thành phố Huế tiếp tục kiện toàn, củng cố nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của 152 Ban TTND ở 152/152 xã, phường, thị trấn trong toàn tỉnh. Hoạt động các Ban TTND đã góp phần ổn định tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội ở địa phương và hoạt động của các Ban giám sát đầu tư ở cộng đồng ở khu dân cư đã giúp cho các công trình đầu tư hạ tầng cơ sở được thực hiện đúng tiến độ, tiết kiệm nhưng chất lượng vẫn bảo đảm, tạo được lòng tin trong quần chúng.

Tuy nhiên, từ thực tế giám sát của MTTQVN cho thấy, tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo sai sự thật hoặc chỉ đúng một phần vẫn liên tục xảy ra, việc phân loại đơn để xử lý đúng theo luật khiếu nại tố cáo vẫn còn lúng túng, tình trạng đơn gửi vượt cấp còn nhiều chủ yếu tập trung vào các địa phương triển khai thực hiện nhiều dự án về giao thông, qui hoạch phát triển, chỉnh trang đô thị,...

Nguyên nhân chủ yếu thường xảy ra ở các nội dung sau:

Một là, Việc thực hiện công khai các vấn đề liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân của một số dự án, công trình chưa được đưa ra dân bàn nên khi thực hiện hiệu quả chưa cao vì nhân dân chưa đồng tình cao. Công tác thực hiện kê khai, đền bù giải tỏa, di dời thực hiện còn cứng nhắc, chưa phù hợp thực tế.

Hai là, Hầu hết các đơn gửi đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh đều có gửi đến lãnh đạo tỉnh, UBND tỉnh, UBND các cấp và các ngành chức năng có đơn gửi đến tất cả các vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, Quốc hội, Chính phủ,... do vậy với những đơn này, thường đưa vào lưu trữ để biết dẫn đến nhiều ngành chậm giải quyết làm cho đơn thư khiếu nại tố cáo kéo dài.

Ba là, Một số đơn có nội dung khiếu nại trùng lắp các năm còn nhiều nhưng việc giải quyết khiếu nại thực hiện chưa dứt điểm như vụ bà Khương Thị Thìn, vụ bà Vương Thị Diệu Tâm ở khu vực Trung tâm nhà thi đấu, vụ 5 hộ bị giải tỏa mở rộng đường Kim Long mặc dù Tỉnh đã có giải pháp giải quyết dứt điểm nhưng việc thi hành của UBND Thành phố thực hiện quá chậm tạo ra khiếu kiện kéo dài,....

          Bốn là, Một số đơn thư do Mặt trận Tổ quốc tỉnh chuyển đến chính quyền và các ngành chức năng việc trả lời chưa đảm bảo thời gian qui định của luật KNTC.

Tóm lại, tình hình đơn thư khiếu nại, tố cáo hàng năm gửi đến UBMTTQVN tỉnh tăng giảm không đáng kể. Nội dung khiếu nại, tố cáo vẫn chủ yếu tập trung vào việc giải quyết đền bù chưa hợp lý khi giải tỏa thực hiện các dự án làm đường giao thông, các dự án xây dựng các công trình quốc gia, thực hiện qui hoạch theo chương trình chỉnh trang đô thị tập trung, việc thu hồi đất, công tác đền bù và việc bố trí đất tái định cư,...

Để công tác tiếp công dân và giải quyết đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân ngày càng tốt hơn, thiết nghĩ Chính quyền và các ngành chức năng cần tiếp tục quan tâm chỉ đạo một số vấn đề sau:

1- Tiếp tục triển khai quán triệt thật đầy đủ tinh thần, nội dung pháp lệnh 34 của Uỷ ban Thường vụ quốc hội khoá XI về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn; Chỉ thị 09/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng về một số vấn đề cấp bách cần thực hiện trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo hiện nay và pháp luật về khiếu nại tố cáo nhằm nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán bộ cơ sở, tiếp tục bổ sung hoàn chỉnh qui chế dân chủ nhất là đưa vào những nội dung phải báo cáo để dân biết, dân bàn, dân thực hiện, dân kiểm tra. Tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật trong nhân dân. Tiếp tục trang bị đầy đủ tủ sách pháp luật và thực hiện tốt các chương trình trợ giúp pháp lý tại các địa phương.

2- Công khai phương án kiểm kê, giá đền bù vật kiến trúc, hoa màu theo thời điểm kiểm kê; bản đồ quy hoạch chi tiết, phương án tái định cư nếu dự án có bố trí lại khu dân cư. Xây dựng các khu tái định cư đảm bảo có đầy đủ cơ sở hạ tầng trước khi bố trí các hộ bị thu hồi hết đất ở vào nơi ở mới. Thực hiện công khai các vùng qui hoạch phát triển đô thị, (trường hợp công bố chậm bản đồ quy hoạch chi tiết đối với các hộ vùng giải toả ở Bờ Sông Hương, phường Phú cát, TP Huế) các dự án công trình.

          3- Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp cần tăng cường phối hợp với Chính quyền cùng cấp trong công tác tiếp công dân và xử lý đơn thư khiếu nại tố cáo của công dân. Giám sát và vận động nhân dân thực hiện các quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đúng quy định pháp luật của Chính quyền góp phần giải quyết dứt điểm các vụ việc KNTC tại địa bàn dân cư. Tiếp tục củng cố nâng cao chất lượng hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân, các Ban, tổ hòa giải để giải quyết kịp thời những tranh chấp nảy sinh của nhân dân ở khu dân cư.

Đặc biệt gần đây lãnh đạo tỉnh xây dựng và thành lập Trụ sở Tiếp công dân đóng tại số 2 đường Tố Hữu, phường Phú Hội, thành phố Huế là nơi Thường trực Tỉnh uỷ, Thường trực HĐND tỉnh, Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Uỷ ban nhân dân tỉnh thực hiện công tác tiếp công dân và ban hành Quy chế phối hợp Tiếp công dân tại Trụ sở Tiếp công dân tỉnh Thừa Thiên Huế là một việc làm quan trọng trong việc đổi mới công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trên địa bàn cũng như phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong việc xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.


SỨC SỐNG MỚI Ở KHU ĐỊNH CƯ THỌ KHƯƠNG
XÃ HƯƠNG HỒ - HUYỆN HƯƠNG TRÀ

                                                                  Huỳnh Từ
Phó Chủ tịch UBMT huyện Hương Trà

Thôn Thọ Khương, xã Hương Hồ là một thôn có 232 hộ, với 988 nhân khẩu, người dân sống chủ yếu bằng nghề dịch vụ, nghề mộc, một bộ phận người dân vạn đò, sống bằng nghề đánh bắt cá trên sông và khai thác cát sạn, đời sống không ổn định, con cái không được học hành, cuộc sống nay đây mai đó.

Thực hiện chủ trương của Đảng bộ, Chính quyền và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh về việc xây dựng khu định cư cho đồng bào sống ở vạn đò, vùng cửa sông, dọc phá Tam Giang. Được sự quan tâm của cả hệ thống chính trị và sự hỗ trợ, tạo điều kiện giúp đở của Uỷ ban Mặt trận tỉnh Thừa Thiên Huế, huyện Hương Trà; xã Hương Hồ đã tích cực vận động các tầng lớp nhân dân thực hiện chủ trương của Đảng, Chính quyền và Mặt trận về xây dựng khu tái định cư Thọ Khương, xã Hương Hồ để vận động 97 hộ, 470 nhân khẩu sống trôi nổi trên sông nước về tái định cư ổn định cuộc sống và tạo điều kiện cho người dân có điều kiện ổn định kinh tế gia đình, tạo công ăn việc làm cho người lao động và con em trong gia đình có điều kiện học hành, vui chơi, chăm sóc sức khoẻ.

Năm 2009 xã đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu tái định cư, bảo đảm khi người dân đến ở có điều kiện sinh hoạt đảm bảo tối thiểu; xã đã tập trung san lấp mặt bằng, xây dựng đường giao thông đi lại, kéo hệ thống điện lưới phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt, xây dựng hệ thống nước sạch, xây dựng các bến nước dọc dòng sông cho người dân có điều kiện neo đậu tàu thuyền khi đến nơi ở mới. Uỷ ban Mặt trận tỉnh và huyện đã hỗ trợ cho mỗi hộ gia đình hơn 15 triệu đồng bằng nguồn “Quỹ vì người nghèo” để các hộ định cư xây dựng nhà ở, sau gần hai năm thi công đến nay 97 hộ định cư đã xây dựng cơ bản xong nhà ở, và đưa vào sử dụng, ổn định cuộc sống, không còn lo cảnh mưa trên nước dưới, bấp bênh trong cuộc sống, con cái được học hành, chữa bệnh.

Đến Thọ Khương hôm nay mới thấy được sụ nỗ lực to lớn của Đảng bộ và chính quyền địa phương và Uỷ ban Mặt trận, sự nỗ lực của người dân vạn đò tái định cư; hầu hết các gia đình đều đã có nhà ở kiên cố tránh được mưa bão, lũ lụt, điều kiện kinh tế tuy còn khó khăn nhưng cũng đã có tín hiệu mới đáng mừng; một số người tiếp tục làm nghề đánh bắt tôm cá trên sông, khai thác cát sạn, có nhiều lao động đã làm nghề may công nghiệp, nghề thêu nón lá bài thơ góp phần làm tăng sản phẩm cho ngành du lịch; một số lao động đã mạnh dạn mở các cơ sở nghành nghề như đúc bờ lô, gia công giày da công nghiệp, nghề mộc dân dụng thu hút nhiều lao động ở địa phương; 100% cháu trong độ tuổi học Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học cơ sở được đến trường.

Thôn đạt chuẩn văn hoá đã được Uỷ ban nhân dân huyện công nhận do có nhiều thành tích trong phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, đã thực hiện tốt cuộc vân động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” và cuộc vận động “Ngày vì người nghèo”, thôn đã đăng ký cụm dận cư không có tội phạm và tệ nạn xã hội, không có người sinh con thứ ba trở lên. Trong dịp kỷ niệm 80 năm ngày thành lập Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 18/11/1930 – 18/11/2010 thôn đã tổ chức tốt Ngày hội Đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm ôn lại truyền thống vẻ vang của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam qua các thời kỳ đồng thời thăm hỏi động viên các gia đình chính sách, người có công với nước, người nghèo, người cô đơn không nơi nương tựa. Ban công tác Mặt trận thôn đã phối hợp tổ chức bữa cơm đại đại đoàn kết góp phần tạo ra không khí hân hoan, phấn khởi, tin tưởng của nhân dân đối với Nhà nước.

Tuy nhiên để khu định cư Thọ Khương phát triển bền vững cần phải có sự nhiệt tình, năng động sáng tạo, tìm tòi học hỏi của người dân. Đồng thời Đảng uỷ, Chính quyền xã Hương Hồ cần có chủ trương tạo điều kiện cho người dân phát triển kinh tế và tập trung cho công tác đào tạo nghề cho người dân về ngành nghề dịch vụ, thợ thủ công mây tre, đan lát phục vụ cho nhu cầu dịch vụ du lịch, nhất là lực lượng thanh niên để có đều kiện tạo ra công ăn vịêc làm, khai thác thế mạnh của địa phương, đảm bảo kinh tế phát triển, thu nhập ổn định; cuộc sống ngày càng được nâng lên. Trong những năm đến khu định cư sẽ có những bước đi vững chắc, bảo đảm xoá đói, giảm nghèo một cách bền vững./.


NGHỊ LỰC VƯƠN LÊN CỦA MỘT NẠN NHÂN
BỊ NHIỄM CHẤT ĐỘC DA CAM ĐIÔXIN

                                                                       Cao Quang Hiển
Chủ tịch Hội CCB phường Phú Nhuận-TP Huế

          Từ phía sau hàng ghế hội trường Trung tâm Festival Huế, tôi nghe tiếng nạng gỗ chống lộc cộc lên bục báo cáo tham luận trong ngày kỷ niệm 50 năm thảm họa da cam ở Việt Nam (10/8/1961 – 10/8/2011), tôi quay lại nhìn thấy một cô bé với cặp nạng gỗ và một chân đang khó nhọc bước đi. Nhìn cảnh đó tôi vô cùng xúc động. Khi nghe em báo cáo tham luận thì tôi không cầm nổi nước mắt. Vì sao một người con gái với thân hình nhỏ nhắn lại gặp những rủi ro và có nghị lực vươn lên trong cuộc sống như vậy. Qua tìm hiểu, tôi được biết tên em là Trần Thị Ánh, nhân viên đang làm việc tại Cơ sở Đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho người khuyết tật Hy Vọng tại số 20 đường Nhật Lệ - Thành phố Huế do chị Nguyễn Thị Hồng làm giám đốc.

15_copy_copy
Em Trần Thị Ánh -
bị liệt hai chân do nhiễm chất độc da cam  điôxin

          Ánh sinh ra trong một gia đình nghèo tại thôn Đồng Bào, xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Khi em ra đời thì cha không còn nữa, chỉ còn mẹ và chị. Em bị liệt 2 chân, mẹ em thương con đưa đi khám khắp các bệnh viện nhưng đều được chẩn đoám em bị nhiễm chất độc da cam điôxin và không thể chữa được. Nỗi khát khao được đi trên đôi chân của chính mình mà không được. Lúc 6 tuổi mơ ước của em là được đi học như các bạn cùng trang lứa. Trường ở quá xa nhà, mẹ ốm đau bị gai đốt cột sống. Em di chuyển bằng 2 tay bò lê. Đến 11 tuổi em may mắn được cô giáo Trần Thị Mão, giáo viên cấp 1 ở quê em hàng ngày chở em đến trường trên chiếc xe đạp “cà tàng”. Những ngày mưa to gió lớn, hai cô cháu vất vả mới tới được trường học. Lên 12 tuổi biết được hoàn cảnh gia đình và quyết tâm của em, chính quyền xã đã tặng cho em một chiếc xe lăn tay. Em tự đi học bằng chiếc xe lăn ấy. Đường làng quê em hồi đó lầy lội em phải vất vả cùng chiếc xe lăn để tới trường trong những ngày mưa gió. Chuyên cần, chăm chỉ học hành đến năm em 14 tuổi thì có đoàn khám bệnh từ thiện về xã, em được khám và phẫu thuật chân phải, còn chân trái do quá nặng phải phẫu thuật đến 3 lần mà không được do bị nhiễm trùng phải tháo khớp. Nỗi ước mơ được đi trên chính đôi chân của mình lại không được nữa rồi. 15 tuổi mẹ em ngã bệnh, chị gái đi lấy chồng xa. Ánh đành phải nghỉ học ngồi nhà chằm nón để kiếm sống, nghĩa tình bà con lối xóm quê em thương mẹ con Ánh đã phụ giúp củ khoai, bát gạo đỡ đần để hai mẹ con sống qua ngày.

          Năm 2006, em được vào học nghề may và làm việc tại cơ sở Hy Vọng, các thầy cô trong cơ sở tận tình dạy bảo em nên em trưởng thành nhanh chóng, có được đồng lương em đã dành dụm gửi về nuôi mẹ. Rủi ro cứ bám theo người con gái này mãi, trong một buổi làm việc thì em bị ngất, các thầy cô trong cơ sở Hy Vọng đưa em đi khám thì phát hiện em bị bệnh tim, cơ sở Hy Vọng đã vận động quyên góp ở các cơ quan trong thành phố, trong số đó có Báo Net CoDo đã tặng em 12 triệu đồng để em được mổ tim. Lành bệnh trở lại cơ sở thì mẹ em lại qua đời. Nỗi buồn cứ chồng chất lên em nhưng được sự cưu mang đùm bọc của mọi người trong cơ sở Hy Vọng và cộng đồng xã hội nên Ánh đã vươn lên để tích cực làm việc. Hiện nay em đã trở thành một người thợ lành nghề làm ra nhiều sản phẩm có thu nhập ổn định.

Bên cạnh nghị lực mạnh mẽ vượt qua những khó khăn về bệnh tật, Ánh còn là nhân viên sản xuất giỏi điển hình của bộ phận may mặc. Hàng tháng Ánh đã may trên 300 sản phẩm, vừa đảm bảo thu nhập để trang trải cuộc sống của mình, vừa góp phần hoàn thành chỉ tiêu kế hoạch của cơ sở. Tuy bệnh tật nhưng sự cố gắng vươn lên làm việc của Ánh đã đem lại kết quả như một người bình thường.

          Từ trong đáy lòng em, Ánh luôn cảm nhận một điều “cuộc sống luôn tươi đẹp”. Từ trên bục tham luận bước xuống, Ánh được mọi người vỗ tay nồng nhiệt và cảm phục một người con gái nhỏ nhắn bị tật nguyền được cơ sở Hy Vọng giúp đỡ em đã vươn lên vượt qua nỗi đau da cam để trưởng thành./.